ĐẶC
ĐIỂM NHÂN CÁCH CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH
TS
NGUYỄN HỮU LẬP
Mỗi
nhân cách chính trị đều vừa là khách thể, vừa là chủ thể của một nền chính trị.
Trong đó nhân cách chính trị của những vĩ nhân có tác động đến sự tồn vong của
nền chính trị đó. Thực tế lịch sử cho thấy, nhân cách chính trị Hồ Chí Minh với
những đặc điểm nổi bật có tác động to lớn đối với thắng lợi của cách mạng Việt
Nam, là chuẩn mực để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta học tập, làm theo.
Nhân cách chính trị là bộ
phận quan trọng cấu thành nhân cách của một cá nhân trong xã hội có giai cấp,
được hình thành, phát triển, hoàn thiện trong quá trình cá nhân đó ứng xử với
môi trường chính trị và với các nhân cách chính trị khác. Nó bao gồm những yếu
tố tạo thành nét đặc trưng của văn hóa chính trị ở mỗi con người trong một môi
trường chính trị nhất định. Có thể khái quát rằng, nhân cách chính trị là cách
mà con người sống và thể hiện mình trong một môi trường chính trị cụ thể. Theo
đó, môi trường và thể chế chính trị sẽ chi phối, tác động và quy định nhân cách
chính trị của cá nhân. Nói cách khác, nhân cách chính trị luôn mang tính xã hội
sâu sắc. Tuy nhiên, với cùng một môi trường và thể chế chính trị nhất định nhưng
luôn có sự khác nhau giữa các nhân cách chính trị. Bởi bên cạnh sự ảnh hưởng của
hoàn cảnh khách quan thì nhân cách chính trị của mỗi cá nhân còn bị chi phối bởi
nhãn quan chính trị, năng lực chủ quan của chính cá nhân đó. Vì thế, có những
nhân cách tiêu biểu, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của chính trị theo đúng
quy luật xã hội, trở thành chuẩn mực chung của một cộng đồng, một quốc gia, dân
tộc. Bên cạnh đó, cũng có những nhân cách chính trị không phù hợp với sự phát
triển của xã hội và trở thành lực cản, thậm chí đi ngược lại mục tiêu xây dựng
một thể chế chính trị tiến bộ, dân chủ, nhân văn và nhân đạo.
Lịch sử chính trị Việt
Nam cho thấy, môi trường và thể chế chính trị thuộc địa, nửa phong kiến giai đoạn
cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã tạo ra những nhân cách chính trị phục tùng sự
thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai. Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản lần
đầu vào năm 1925, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Người Aixơlen, Ai Cập, Triều Tiên, Ấn
Độ, tất cả những người chiến bại hôm qua và nô lệ hôm nay đó, đương đấu tranh
dũng cảm cho nền độc lập ngày mai của họ. Riêng người An Nam, thì vẫn cứ thế: sẵn
sàng làm nô lệ”[1].
Tuy nhiên, bên cạnh đó rất nhiều những nhân cách chính trị Việt Nam không cam
chịu thân phận nô lệ và thể chế chính trị áp bức, bóc lột của thực dân, phong
kiến, đã tạo nên phong trào đấu tranh chống Pháp rộng khắp trên cả nước như
Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám... Mặc dù vậy, cho đến khi có sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các cuộc đấu tranh đó đều chưa giành thắng
lợi.
Thực tế đã chứng minh,
trong số những nhân cách chính trị tiêu biểu của dân tộc với tư cách là lãnh tụ
của các phong trào đấu tranh chống Pháp để giải phóng dân tộc, chỉ có nhân cách
chính trị Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng Việt
Nam, trở thành chuẩn mực của nhân cách chính trị Việt Nam hiện đại. Nhân cách
chính trị Hồ Chí Minh là tổng hòa các giá trị được hình thành và phát triển
trong quá trình hoạt động cách mạng của Người; phản ánh mục tiêu, lý tưởng,
cách thức giải quyết mối quan hệ giữa trách nhiệm cá nhân với vận mệnh của quốc
gia, dân tộc, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa con người chính trị với thể chế
chính trị, giữa người lãnh đạo, quản lý với đối tượng lãnh đạo, quản lý; có
tính ổn định, bền vững, tính cách mạng và nhân văn triệt để. Nói tóm lại, đó là
một nhân cách chính trị thân dân, gần dân, tất cả vì dân.
Với tính cách là tập hợp
các giá trị về mục tiêu, lý tưởng, lập trường, bản lĩnh và đạo đức chính trị -
nhân cách chính trị Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng cấu thành văn hóa
chính trị của Người. Những giá trị đó có vai trò là nền tảng cho sự hình thành,
phát sinh, phát triển và hoàn thiện các nhóm giá trị khác trong văn hóa chính
trị như, các giá trị tư tưởng và giá trị hành vi. Trên thực tế, nhân cách chính
trị Hồ Chí Minh đã là cơ sở để thức tỉnh tinh thần và ý thức chính trị của các
tầng lớp nhân dân, phát huy cao độ sức mạnh của quần chúng trong đấu tranh cách
mạng; tác động trực tiếp đến việc tạo ra các thế hệ cán bộ, đảng viên hết lòng
vì dân, vì nước, vì thắng lợi của mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội; tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân yêu chuộng hòa
bình trên thế giới; cảm hóa được những người lầm lỗi và cả những binh lính đối
phương để tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo đảm cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng
lợi này đến thắng lợi khác.
Có thể khái quát đặc điểm
của nhân cách chính trị Hồ Chí Minh như sau:
Một
là,
luôn đề cao trách nhiệm cá nhân trước vận mệnh của quốc gia, dân tộc, chấp nhận
mọi gian khổ, hy sinh vì độc lập của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Thực tế
cho thấy, dưới sự thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, Tổ quốc ta
chìm trong đêm dài nô lệ, nhân dân đói khổ, lầm than, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ
ra nhưng không giành thắng lợi. Trước thực trạng đó, Nguyễn Tất Thành đã sớm
hình thành chí hướng và nung nấu tư tưởng tìm một con đường cứu nước mới để giải
phóng dân tộc, giúp đồng bào mình thoát khỏi cảnh thống khổ của người dân mất
nước. Ngay từ khi còn là một thiếu niên, Người đã nghĩ đến trách nhiệm của cá
nhân đối với Tổ quốc và quyết tâm đấu tranh cho độc lập của dân tộc; tự do, ấm
no hạnh phúc của nhân dân. Trước nhiều câu hỏi lớn liên quan đến vận mệnh của
quốc gia, dân tộc chưa có lời giải, Người đã xác định, phải đi ra nước ngoài
xem người ta làm như thế nào rồi trở về giúp đồng bào mình.
Theo Hồ Chí Minh, xã hội
càng phát triển đòi hỏi tính cộng đồng và trách nhiệm cá nhân của con người
ngày càng cao. Đặc biệt, trong đấu tranh giai cấp càng cần có sự đoàn kết giữa
những cá nhân cùng giai cấp và giữa các giai cấp có chung lợi ích. Mặt khác,
Người cho rằng, “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”. Vì vậy, dân là gốc
của nước, có dân mới có nước. Tuy nhiên, nước mất thì nhà tan, nước mất độc lập
thì dân không thể có tự do. Vì vậy, mỗi cá nhân phải có trách nhiệm với cộng đồng,
với sự hưng vong của quốc gia, dân tộc. Ý thức rõ điều đó, Hồ Chí Minh đã dấn
thân làm cách mạng và chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh, đấu tranh đến hơi thở cuối
cùng vì nền độc lập và sự phát triển bền vững của Tổ quốc, vì hạnh phúc của
nhân dân.
Trong nhân cách chính
trị Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân
dân là lý tưởng, lẽ sống của Người. Bởi vì, Người cho rằng “nếu nước độc lập mà
dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[2]. Vì vậy, quan niệm về độc lập dân tộc của Hồ
Chí Minh có sự phát triển mới về chất so với quan niệm của các sĩ phu yêu nước
cùng thời. Thực tế cho thấy, lý tưởng và quan niệm đó đã đưa Người đến với chân
lý chính trị của thời đại đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, là con đường cách mạng
vô sản và chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, lý tưởng và quan niệm đó
bảo đảm cho Người không bị cám dỗ bởi lợi ích cá nhân, tiền tài và địa vị. Người
đã khẳng định: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc,
và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào
chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân
đoàn kết, tranh được chính quyền, uỷ thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng
đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng - cũng vì mục đích đó”[3].
Hơn nữa, lý tưởng đó còn là cơ sở để Người suốt đời thực hiện một triết lý hành
động, “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết
sức tránh”[4].
Hai
là,
luôn tìm mọi cách để nhân dân trở thành chủ thể của quyền lực chính trị và thực
sự làm chủ quyền lực chính trị. Với nhân cách chính trị thân dân, gần dân, tất
cả vì tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân - Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn lớn
nhất là, “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự
do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[5].
Vì vậy, trên hành trình bôn ba tìm đường cứu nước, mặc dù được tiếp xúc với nhiều
tư tưởng chính trị, nhiều con đường cứu nước và chế độ xã hội khác nhau, nhưng
Người chỉ tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin, đi theo con đường cách mạng vô sản và
lựa chọn mô hình xã hội chủ nghĩa. Bởi lẽ, Người đã so sánh và nhận rõ: muốn cứu
nước, giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản
và chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới bảo đảm cho nhân dân trở thành chủ thể của quyền
lực chính trị. Do vậy, trong ứng xử chính trị của Hồ Chí Minh, việc xóa bỏ chế
độ thuộc địa, nửa phong kiến và thiết lập chế độ Dân chủ nhân dân để tiến dần
lên chủ nghĩa xã hội đều là tất yếu như nhau. Theo đó, trong tư tưởng và hành động
chính trị của Người, cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng
xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc phải là điều kiện, tiền đề và luôn gắn liền với
mục tiêu chủ nghĩa xã hội.
Thực
tế cho thấy, sau khi Cách mạng Tháng tám thành công, Hồ Chí Minh đã tiến hành
ngay các hoạt động nhằm hiện thực hóa vị trí, vai trò của nhân dân đối với quyền
lực chính trị như: tổ chức bầu Quốc hội; soạn thảo và ban hành Hiến pháp và các
đạo luật… Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ mới, Người nói: “Trước chúng
ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém
phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng
quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính
phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu”[6]. Theo Hồ
Chí Minh, nhân dân không chỉ là chủ, mà còn có trách nhiệm làm chủ trong chính
trị. Người chỉ rõ: “Nhân dân là chủ. Chính phủ là đày tớ của nhân dân. Nhân dân
có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm
mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân. Vì vậy, nhân dân lại có nhiệm vụ giúp đỡ
Chính phủ, theo đúng kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ”[7]. Mặt
khác, trong nhân cách chính trị Hồ Chí Minh, không phải chỉ Chính phủ là những
người được nhân dân bầu lên mới là đầy tớ của nhân dân, mà cả đảng chính trị -
những người không do nhân dân bầu lên cũng phải vừa là người lãnh đạo, vừa là
người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
Ba
là,
luôn tự mình tu dưỡng đạo đức cách mạng để cống hiến cho nhân dân ngày càng được
nhiều hơn. Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng là một giá trị nổi bật
trong nhân cách chính trị Hồ Chí Minh. Người đã chỉ rõ: “Người cách mạng phải
có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân
dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc
to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu
xa thì còn làm nổi việc gì?”[8].
Nhận rõ vai trò to lớn của đạo đức cách mạng đối với mục tiêu hiện thực hóa chế
độ xã hội chủ nghĩa và đem lại quyền lợi chính trị cho nhân dân, Hồ Chí Minh đã
kiên trì thực hành cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư, “Dĩ công vi thượng”; luôn đặt lợi ích của Đảng của
dân tộc lên trước lợi ích cá nhân, gia đình. Trong Thư gửi Họ Nguyễn Sinh
(9/11/1950), Người viết: “Nghe tin anh Cả mất, lòng tôi rất buồn rầu. Vì việc
nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc
anh tạ thế tôi không thể lo liệu. Than ôi! Tôi chịu tội bất đệ trước linh hồn
anh và xin bà con nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo
việc nước”[9].
Không
chỉ tự mình tu dưỡng, rèn luyện mà còn luôn nhắc nhở, giáo dục cán bộ, đảng
viên rằng: “Vô luận lúc nào, vô
luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của
cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là "tính Đảng"”[10].
Trọn đời hy sinh cho độc lập của dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân là nét
đặc trưng của nhân cách chính trị Hồ Chí Minh. Trong Di chúc, Người đã viết:
“Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân
dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ
tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”[11].
Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người có nhiều năm sống và làm việc bên cạnh Hồ Chí
Minh đã khẳng định: "Hồ Chủ tịch không có cái gì riêng; cái gì của dân là
của Người. Quyền lợi tối cao của nước, lợi ích hàng ngày của dân, là sự lo lắng
hàng ngày của Người. Gia đình của Người là đại gia đình Việt Nam"[12].
Như vậy, có thể thấy, nhân cách chính trị Hồ Chí Minh là những giá trị phổ
quát nhất của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư tưởng và hành động về trách nhiệm
của một cá nhân với cộng đồng, quốc gia dân tộc trong quá trình đấu tranh,
giành, giữ, sử dụng và xây dựng một thể chế chính trị mà cốt lõi là một nhà nước
thực sự của dân, do dân, vì dân. Đây là yếu tố nền tảng để một nhân cách chính
trị có được nhận thức đúng đắn, sự năng động, sáng tạo và một phong cách ứng xử
chính trị đúng đắn với một thể chế chính trị cụ thể. Bên cạnh đó, nhân cách
chính trị Hồ Chí Minh còn là sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động đề cao nhân
dân; hết lòng, hết sức phụng sự nhân dân. Trong nhân cách chính trị Hồ Chí
Minh, việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và
tính nghiêm minh của pháp luật không phải là để trói buộc nhân dân vào những
quy định phức tạp nhằm bảo vệ lợi ích của một bộ phận, mà là nhằm bảo đảm cho mỗi
người dân không phân biệt giai cấp, tín ngưỡng được hưởng các quyền tối thiểu của
mình và không ngừng phát huy sức mạnh của nhân dân cho sự nghiệp giải phóng triệt
để con người. Thêm nữa, nhân cách chính trị Hồ Chí Minh còn là sự thống nhất biện
chứng giữa tư tưởng và tấm gương đạo đức cách mạng, đó là: sự trung thành tuyệt
đối với mục tiêu của con đường cách mạng vô sản là giải phóng dân tộc gắn liền
với giải phóng giai cấp và giải phóng con người; luôn đứng vững trên lập trường
của giai cấp công nhân để xem xét và giải quyết mọi vấn đề chính trị; luôn yêu
thương, khoan dung, độ lượng, quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần
của các tầng lớp nhân dân, nhất là những người lao động, những người khó khăn,
thiệt thòi hơn những người khác; luôn tự mình thực hành cần kiệm liêm chính,
chí công vô tư; luôn đặt cách mạng Việt Nam là một bộ phận không tách rời của
cách mạng thế giới, có trách nhiệm với các vấn đề chính trị quốc tế, tôn trọng
sự khác nhau về thể chế chính trị, sẵn sàng mở rộng quan hệ với tất cả các quốc
gia có chủ quyền trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp
vào công việc nội bộ của nhau và cùng có lợi.
Hiện nay sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế và tính chất
của cuộc đấu tranh giai cấp, cạnh tranh dân tộc đang đặt ra cho mỗi nhân cách
chính trị Việt Nam, trước hết là cán bộ đảng viên những yêu cầu ngày càng cao.
Đòi hỏi mỗi người phải có nhận thức chính trị khoa học; ứng xử chính trị đúng
đắn. Đặc biệt phải có đạo đức chính trị trong sáng, là người trực tiếp làm
chính trị hay chỉ tham gia vào quá trình chính trị cũng đều phải vì lợi ích
chung của cộng đồng, của quốc gia dân tộc và của nhân dân, tuyệt đối không vì
lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm hay lợi ích cá nhân. Để đáp ứng yêu cầu ấy, mỗi
cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ những giá trị có tính chuẩn mực của nhân
cách chính trị Hồ Chí Minh, đồng thời kế thừa, phát triển những giá trị đó lên
tầm cao mới cho phù hợp với tình hình hiện tại. Học tập nhân cách chính trị Hồ
Chí Minh để xây dựng mỗi nhân cách chính trị Việt Nam hiện nay chính là thực
hiện lời di huấn trước lúc Người đi xa rằng: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho
đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”[13].
Đây là một nhiệm vụ quan trọng thuộc về công tác cán bộ của Đảng. Do vậy, nó
phải được quán triệt và thực hiện một cách nghiêm túc, đồng bộ với mục tiêu,
mục đích rõ ràng trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân nói chung, hệ thống
các trường đảng nói riêng. Đặc biệt, trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đã
được quy hoạch làm nguồn lãnh đạo, quản lý kế tiếp của Đảng và Nhà nước. Mặt
khác, trước yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng
hiện nay, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải tự mình tu dưỡng, rèn luyện để trở
thành một nhân cách chính trị đáp ứng đòi hỏi của mục tiêu con đường cách mạng của
Đảng và dân tộc, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh
đạo của Đảng - yếu tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Theo đó,
mỗi cán bộ, đảng viên cần quán triệt sâu sắc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII
về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong nội bộ; tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; không ngừng nâng cao tri thức về khoa
học chính trị để giữ vững lập trường cách mạng, tuyệt đối trung thành với mục
tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam./.
[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 2, tr.140.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.64.
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.272.
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.51
[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.187.
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.7
[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập9, tr.90.
[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập5, tr.292-293.
[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập6, tr.463.
[10] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập5, tr.290-291.
[11] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập15, tr.615.
[12] Trần
Văn Giàu, Giá trị tinh thần truyền thống
của dân tộc Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.443.
13 Hồ Chí Minh,
Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập15, tr.612.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét