HỒ CHÍ MINH - NHÀ VĂN HÓA KIỆT XUẤT

Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2017

QUAN ĐIỂM VŨ TRANG TỰ VỆ - NỘI DUNG CƠ BẢN
CỦA TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH

TÓM TẮT: Tư tưởng nhân văn quân sự Hồ Chí Minh bao gồm một hệ thống quan điểm đề cao giá trị nhân văn, nhân đạo, sự yêu thương, quý trọng con người và quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong các hoạt động quân sự. Trong đó, quan điểm vũ trang tự vệ là nội dung cơ bản, xuyên suốt nhất. Khẳng định vấn đề này góp phần làm thất bại âm mưu xuyên tạc, hạ thấp giá trị của di sản quân sự Hồ Chí Minh.

Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh thể hiện ở mọi di sản mà Người để lại, nhưng nét đặc sắc nhất là điều đó được khẳng định ngay trong tư tưởng quân sự, trong đó quan điểm về vũ trang tự vệ là một nội dung cơ bản. Mặc dù vậy, các thế lực thù địch luôn phủ nhận tính chất nhân văn của hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc mà nhân dân ta đã tiến hành thắng lợi trên nền tảng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Họ xuyên tạc rằng, với tư tưởng ham bạo lực, Hồ Chí Minh là người đã gây nên sự hy sinh vô ích trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Vì vậy, nhận rõ quan điểm tự vệ là cơ sở để củng cố niềm tin vào tính nhân văn của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.
Tự vệ là quyền tự nhiên của mọi người, mọi tổ chức, cộng đồng dân tộc, trong đó tự vệ bằng hình thức vũ trang là quyền cuối cùng chỉ sử dụng khi không còn hình thức tự vệ nào khác. Quan điểm về vũ trang tự vệ của Hồ Chí Minh không chỉ là sự tiếp nối và phát triển truyền thống nhân văn, nhân đạo, yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam - một dân tộc chỉ tiến hành các hoạt động quân sự trong tình huống bắt buộc, mà còn là sự kế thừa, phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về tính chính nghĩa của các hoạt động quân sự. Như Hồ Chí Minh đã khái quát: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[1].
Quan điểm về vũ trang tự vệ là quan điểm xuyên suốt, nhất quán trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, Người chỉ rõ: “Độc lập, tự do không thể cầu xin mà có được”. Tức là phải tự lực, tự cường và nếu không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ người khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập. Thấm nhuần quan điểm ấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã tiến hành khởi nghĩa vũ trang, lật đổ ách thống trị của thực dân, Phong kiến. Sau Cách mạng Tháng tám chưa đầy một tháng, với âm mưu cướp nước ta một lần nữa, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp tiếp tục nổ súng ở miền Nam, buộc nhân dân Nam Bộ nói riêng, cả nước nói chung lại bước vào cuộc chiến tranh tự vệ mới. Trong Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ (30-10-1945), Hồ Chí Minh viết: “Hỡi anh chị em thanh niên Nam Bộ! Tôi thề cùng các bạn giữ vững nền độc lập tự do của nước Việt Nam. Dẫu có phải hy sinh đến nửa số dân tộc, ta cũng quyết hy sinh. Cuộc kháng chiến tự vệ chính nghĩa của dân tộc Viêt Nam phải toàn thắng”[2]. Sau đó, trong bài nói chuyện tại Trường cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh (7-1-1946), Người đã giải thích: “Nếu không bị uy hiếp, chúng ta không cần có tự vệ. Tự vệ là vệ lấy mình, lấy gia đình mình, rồi đến thành phố mình, nước mình. Ta phải ngăn ngừa mọi sự uy hiếp”[3].
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm về vũ trang tự vệ là cơ sở để xác định hình thức tổ chức lực lượng và nghệ thuật quân sự. Theo Người, về mặt chiến lược, vũ trang tự vệ có thể trường kỳ kháng chiến; về hình thức tổ chức lực lượng, vũ trang tự vệ cần được tổ chức thành ba thứ quân với chức năng nhiệm vụ khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau; về cách đánh, có thể kết hợp sử dụng nhiều cách đánh sao cho phù hợp với khả năng của từng lực lượng, từng trận đánh. Trong đó, hết sức coi trọng cách đánh du kích để tiêu hao lực lượng địch, làm cho đối phương dần suy yếu và đi đến thất bại. Người chỉ rõ: “chiến lược tiêu hao lực lượng của địch là chiến lược rất mầu nhiệm trong cuộc chiến tranh tự vệ”[4].
Vũ trang tự vệ là hoạt động quân sự chính nghĩa của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, không bao giờ muốn chiến tranh. Do vậy, nó được sử dụng để giành, giữ bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân trước sự xâm lược của ngoại bang, nên nó thể hiện rõ tính chất nhân văn, nhân đạo. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân ta cần hòa bình để xây dựng đất nước và củng cố lực lượng về mọi mặt. Chúng ta đã nhân nhượng và ký với Chính phủ Pháp Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước ngày 14-9-1946. Nhưng, ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới. Vì vậy, trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, với tinh thần tự vệ cao nhất, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Trong Lời kêu gọi Liên Hợp Quốc, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một lần nữa chúng tôi khẳng định lòng mong muốn hòa bình bằng cách chấp nhận Tạm ước 14-9-1946 mà cốt lõi là nhằm vào việc bảo vệ những lợi ích kinh tế và văn hoá của Pháp ở Việt Nam”[5]. Tuy nhiên, do những người đại diện Pháp ở Đông Dương đã không tôn trọng các điều khoản của tạm ước và rắp tâm cướp nước ta một lần nữa. Do vậy, Hồ Chí Minh khẳng định: “Là nạn nhân của một cuộc xâm lược có chủ định từ trước, chúng tôi buộc phải tự vệ chống lại một đối phương đang thực hiện phương pháp của một cuộc chiến tranh tổng lực như những cuộc bắn phá dã man làng mạc và dân thường”[6].
Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh tự vệ bắt buộc để bảo vệ chính quyền non trẻ, bảo vệ quyền tự quyết dân tộc, bảo vệ danh dự và nhân phẩm của một dân tộc. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh đó chỉ để đánh bại ý chí xâm lược của một số kẻ hiếu chiến. Theo Hồ Chí Minh,  “Nhân dân Việt Nam đã bị chính sách vũ lực, chính sách xâm lăng của một vài người đại diện Pháp ở Đông Dương xô đẩy vào một cuộc chiến tranh tự vệ thảm khốc”[7]. Do đó, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, kể cả khi đấu tranh giành chính quyền từ tay thực dân Pháp cũng như khi tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp, không bao giờ Người coi mọi người pháp là kẻ thù của nhân dân Việt Nam, mà chỉ là chính quyền thực dân và những kẻ hiếu chiến mà thôi. Người viết: “Trước bạo lực của thực dân phản động Pháp, chúng tôi cần phải tự vệ. Nhưng đối với nhân dân Pháp, chúng tôi vẫn giữ chính sách cộng tác thật thà. Chúng tôi chỉ muốn độc lập và thống nhất. Chúng tôi chỉ muốn hoà bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh, nhưng chúng tôi quyết tự vệ đến giọt máu cuối cùng. Chúng tôi quyết không chịu mất nước làm nô lệ thực dân lần nữa. Mong Chính phủ, Nghị viện và nhân dân Pháp hiểu cho. Mong các nước dân chủ trên thế giới hiểu cho”[8]. Với tinh thần tự vệ và ý chí tự lực, tự cường cao cả, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên, chấn động địa cầu.
Mặc dù vậy, ngay sau đó, nhân dân ta lại một lần nữa phải đứng lên tiến hành cuộc chiến tranh tự vệ chống đế quốc Mĩ xâm lược, hòng chia cắt đất nước ta làm đôi. Trong khi trả lời các nhà báo, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh tính chất tự vệ chính nghĩa của cuộc chiến. Người chỉ rõ: “Nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa luôn luôn tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh Hiệp nghị Giơnevơ năm 1954. Nhưng vì đế quốc Mỹ đã có những hành động gây chiến đối với nước chúng tôi, cho nên nhân dân chúng tôi phải dùng biện pháp tự vệ cần thiết để giữ gìn chủ quyền và an ninh của nước chúng tôi”[9]. Cuộc chiến tranh tự vệ chống đế quốc Mĩ mà nhân dân Việt Nam tiến hành, chẳng những có giá trị nhân văn, nhân đạo đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với khu vực và thế giới. Người chỉ rõ: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi phải kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược để tự vệ, để bảo vệ những quyền dân tộc thiêng liêng nhất của mình, đồng thời góp phần giữ gìn hòa bình ở châu Á và thế giới”[10]. Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, cuộc chiến tranh tự vệ của nhân dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn, đúng như dự báo của Hồ Chí Minh khi Người nói: “Đế quốc Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo nhất trong lịch sử chống nhân dân Việt Nam. Sử dụng quyền tự vệ thiêng liêng của mình, toàn thể nhân dân Việt Nam đã kiên quyết chống lại để bảo vệ độc lập, tự do và đã liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn và nhất định sẽ giành được thắng lợi cuối cùng”[11].
Như vậy, quan điểm vũ trang tự vệ là quan điểm xuyên suốt, chỉ đạo mọi suy nghĩ và hành động quân sự của Hồ Chí Minh, là cốt lõi trong tư tưởng nhân văn quân sự của Người. Thực tiễn các hoạt động quân sự của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Hồ Chí Minh là minh chứng rõ nét, chân thực nhất về tính nhân văn, nhân đạo cao cả của tư tưởng, hành vi và nhân cách của Người trong lĩnh vực quân sự.
Quan điểm vũ trang tự vệ của Hồ Chí Minh đã tiếp nối và phát triển đến đỉnh cao truyền thống nhân văn quân sự của dân tộc. Quan điểm đó đã cho phép phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước và con người Việt Nam, tạo nên sức mạnh to lớn trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền và trong hai cuộc chiến tranh cách mạng vĩ đại. Tính nhân văn, nhân đạo của quan điểm vũ trang tự vệ đã nhận được sự chia sẻ, đồng tình ủng hộ và sự giúp đỡ to lớn của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới cho các hoạt động quân sự của cách mạng Việt Nam. Quan điểm vũ trang tự vệ của Hồ Chí Minh tiếp tục được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta quán triệt, phát huy trong điều kiện mới. Đảng ta luôn khẳng định, củng cố quốc phòng, hiện đại hóa quân đội chỉ để sẵn sàng đập tan mọi âm mưu xâm lược, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước chứ không nhằm phục vụ cho các hoạt động quân sự ngoài lãnh thổ Việt Nam./.

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t7, tr.38.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t4, tr.90.
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t4, tr.170.
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t4, tr.516.
[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t4, tr.522.
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t4, tr.522.
[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t5, tr.14.
[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t5, tr.138.
[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t14, tr.369.
[10]Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t14, tr.661.
[11] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t15, tr.492.
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CẦM QUYỀN - MỘT GIÁ TRỊ
NỀN TẢNG CỦA VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
                                                          
TÓM TẮT: Đảng cầm quyền là vấn đề không mới và là tất yếu khách quan của đời sống chính trị đương đại. Vì vậy, việc Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền chẳng những hoàn toàn chính đáng, phản ánh sự lựa chọn sáng suốt của lịch sử mà còn là một giá trị nền tảng của văn hóa chính trị Việt Nam hiện đại.
Văn hóa chính trị truyền thống là những giá trị về chính trị được tạo ra trong quá trình vận động, phát triển của quyền lực nhà nước khi mà đấu tranh giai cấp trong xã hội chưa gay gắt, được biểu hiện ở mức độ quan tâm đến con người của các triều đại Phong kiến. Bên cạnh đó, văn hóa chính trị hiện đại là tổng hòa các giá trị chính trị đánh dấu sự phát triển cao của đấu tranh giai cấp, biểu hiện ở thể chế, thiết chế, đường lối, quan điểm, mục tiêu, lý tưởng của một nền chính trị, cùng những nhận thức và hành vi ứng xử cụ thể của các chủ thể chính trị, trước hết là của đảng chính trị. Do đó, đảng chính trị vừa là một giá trị, vừa là yếu tố quyết định bản chất, tính chất của văn hóa chính trị hiện đại.
Đảng cầm quyền là đảng chính trị đã giành được chính quyền, chi phối mọi hoạt động của nhà nước và thông qua quyền lực nhà nước để thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng và lợi ích giai cấp mà đảng đó là thành viên hoặc là người đại diện. Sự ra đời, tồn tại và hoạt động của các đảng chính trị nói chung, đảng cầm quyền nói riêng là một giá trị nổi bật trong văn hóa chính trị của nhân loại, đánh dấu sự phát triển về chất của cuộc đấu tranh giai cấp và xu thế dân chủ hóa đời sống chính trị. Thực tế cho thấy, trong xã hội hiện đại, vai trò của các đảng chính trị là không thể thiếu và ngày càng tăng lên.
Đảng chính trị luôn mang bản chất giai cấp mà đảng ấy là đại diện và một giai cấp cùng lúc có thể có nhiều đảng chính trị tuyên bố đại diện cho lợi ích của họ. Do đó, bản chất giai cấp, hệ tư tưởng luôn là tiêu chí quyết định nhất để phân biệt sự khác nhau giữa các đảng chính trị. Việc các đảng chính trị có cùng hệ tư tưởng cạnh tranh với nhau để nắm quyền lực nhà nước, thực chất chỉ là sự cạnh tranh mang màu sắc chính trị của các nhóm lợi ích và sự đối lập giữa các đảng đó chỉ là sự đối lập giữa một nhóm nắm chính quyền và một nhóm không nắm chính quyền. Như vậy, ở các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa hiện nay, cái gọi là đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thực chất chỉ là sự đa dạng các nhóm lợi ích chính trị, đa dạng mục tiêu, xu hướng chính trị trong khuôn khổ một hệ tư tưởng của chủ nghĩa tư bản. Và, ở các thể chế chính trị ấy, việc người dân lựa chọn đảng cầm quyền, về bản chất cũng chỉ là sự tín nhiệm và lựa chọn một nhóm chính trị nào đó của giai cấp tư sản. Điều đó cho thấy, cách mạng chính trị ở các nước tư bản chủ nghĩa chỉ thực sự giành thắng lợi khi các Đảng của giai cấp công nhân trung thành với hệ tư tưởng Mác - Lênin trở thành đảng cầm quyền.
Sự ra đời của các đảng chính trị và trở thành đảng cầm quyền ở mỗi quốc khác nhau phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh và truyền thống văn hóa chính trị của quốc gia đó. Có những đảng ra đời trước khi có nhà nước, đảm nhiệm vai trò lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền bằng một cuộc cách mạng xã hội, trở thành đảng cầm quyền. Bên cạnh đó, có những đảng ra đời trong khuôn khổ quy định của Hiến pháp, pháp luật và trở thành đảng cầm quyền thông qua bầu cử. Dù ra đời dưới hình thức nào, các đảng cầm quyền đều phải bảo đảm tính chính đáng, tức là phải được sự thừa nhận của quần chúng nhân dân, hoặc là phải hợp hiến và hợp pháp.
Ở Việt Nam, truyền thống văn hóa chính trị nhân văn, nhân đạo, hòa bình đã hình thành từ khi bắt đầu xuất hiện nhà nước và được bồi đắp trong suốt chiều dài lịch sử. Mặc dù vậy, sau khi thực dân Pháp xâm lược và biến nước ta thành một nước thuộc địa, nửa Phong kiến, nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang đã liên tiếp nổ ra, nhưng do chưa có một tổ chức cách mạng lãnh đạo, chưa có đường lối đúng nên không giành được thắng lợi. Các phong trào cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và tư sản đều trở nên bế tắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận định: “Trong mấy mươi năm khi chưa có Đảng, tình hình đen tối như không có đường ra”[1]. Đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, bằng nhãn quan chính trị và sự chuẩn bị chu đáo, Hồ Chí Minh đã sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người chỉ rõ, muốn cách mệnh, “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”[2].
Sự xuất hiện của Đảng Cộng sản Việt Nam là một giá trị đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới về chất của văn hóa chính trị Việt Nam truyền thống. Bởi lẽ, Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa một học thuyết cách mạng, khoa học nhất của thời đại, đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và phong trào yêu nước có truyền thống hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, Đảng không chỉ là đội tiền phong, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động mà còn là đảng của cả dân tộc. Ngay khi ra đời, Đảng đã tuyên bố cương lĩnh hoạt động và xác định mục tiêu chính trị là, lật đổ sự thống trị của thực dân, Phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân và thiết lập nhà nước Công, Nông, Binh, mà sau này Hồ Chí Minh đã xác định lại là nhà nước Dân chủ nhân dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng cách mạng chân chính, khác hẳn về chất so với các đảng chính trị của giai cấp tư sản. Bởi vì, Đảng chủ trương thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đề cao độc lập của dân tộc mình, đồng thời tôn trọng độc lập của các dân tộc khác, hướng tới mục tiêu cao cả là giải phóng giai cấp và giải phóng con người không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn trên phạm vi quốc tế. Mặt khác, phẩm chất đạo đức của những người cộng sản được Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện cộng với cương lĩnh chính trị đúng đắn, sáng tạo, hợp quy luật khách quan và xu thế thời đại đã có sức cảm hóa kỳ diệu đối với đông đảo các tầng lớp nhân dân Việt Nam. Vì vậy, từ khi có Đảng, các tầng lớp nhân dân Việt Nam đã coi Đảng là đảng của mình, gọi Đảng là đảng ta, một lòng, một dạ tin tưởng vào Đảng, tự nguyện đi theo Đảng làm cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã vượt qua những chặng đường đầy khó khăn, gian khổ, giành được nhiều thắng lợi vẻ vang và viết lên những trang sử hào hùng trong tiến trình phát triển của dân tộc.
Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ nhu cầu đấu tranh cách mạng với khát vọng độc lập, tự do, bình đẳng, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Chỉ khi có Đảng lãnh đạo, chủ nghĩa yêu nước và những giá trị tốt đẹp của dân tộc mới được phát huy và không ngừng phát triển.
Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đang vững bước trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội với mục tiêu tổng quát là: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Mục tiêu đó sẽ từng bước được cụ thể hóa bằng việc xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; một nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa lấy tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội; một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; một nền quốc phòng toàn dân lấy mục tiêu tự vệ là chính; một nền ngoại giao thân thiện với chủ trương trở thành bạn và đối tác tin cậy, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Con đường mà dân tộc Việt Nam đang đi dưới sự lãnh đạo của Đảng là con đường phát triển hợp quy luật khách quan, xu thế thời đại và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Kiên định con đường đó với mục tiêu nhất quán độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vừa thể hiện một trình độ văn hóa chính trị, vừa là một giá trị nền tảng của văn hóa chính trị Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới.
Có thể nói, sự lãnh đạo của Đảng luôn là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Kết quả lãnh đạo của Đảng chẳng những bảo đảm tính chính đáng, mà còn là yếu tố cơ bản nhất để Đảng giành được sự tín nhiệm của nhân dân, khẳng định vai trò là đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo, do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, Đảng không tránh khỏi những hạn chế, khuyết điểm cần phải được khắc phục để có thể tiếp tục khẳng định tính chính đáng của vị trí, vai trò là đảng cầm quyền, xứng đáng là một giá trị nền tảng của văn hóa chính trị Việt Nam hiện đại và sự tin yêu của nhân dân./.

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 12, tr.401.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 2, tr.289.
VĂN HÓA LÃNH ĐẠO HỒ CHÍ MINH - CHUẨN MỰC
VĂN HÓA LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Tiêu chí đánh giá sự khác nhau về văn hóa lãnh đạo giữa các đảng chính trị phụ thuộc vào tính chất, mức độ, phạm vi tác động của các giá trị mà đảng đó tạo ra. Tức là, đảng đó đại diện cho giai cấp, tầng lớp nào, ra đời, tồn tại và phát triển vì mục tiêu gì, những giá trị và những biến đổi xã hội được tạo ra dưới sự lãnh đạo của đảng có tính phổ quát không, có phù hợp với quy luật khách quan và xu thế thời đại hay không. Theo đó, têu chí nào đánh giá văn hóa lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hay nói cách khác, chuẩn mực văn hóa lãnh đạo của Đảng ta là gì? Thực tế cho thấy, với vai trò là người sáng lập, rèn luyện Đảng ta và có khoảng thời gian dài trên cương vị Chủ tịch Đảng - văn hóa lãnh đạo Hồ Chí Minh không chỉ là chuẩn mực văn hóa lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà còn làm cho văn hóa lãnh đạo của Đảng ta thực sự nhân văn, nhân đạo, có tính phổ quát và sức sống lâu bền cùng thời gian.
Văn hóa lãnh đạo là những giá trị được sáng tạo ra trong quá trình các đảng chính trị hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng của mình. Những giá trị đó biểu hiện ở hệ tư tưởng; ở chủ trương, đường lối của đảng và cách thức tổ chức thực hiện đường lối đó; ở phẩm chất, nhân cách đội ngũ cán bộ, đảng viên và những biến đổi trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của đảng. Văn hóa lãnh đạo không chỉ có tính cộng đồng mà còn có tính cá nhân sâu sắc. Bởi lẽ, những giá trị chung của văn hóa được hình thành từ sự chấp nhận và chia sẻ của cộng đồng đối với những giá trị riêng mà mỗi cá nhân tạo ra. Do đó, trong trường hợp cụ thể, những giá trị mang dấu ấn cá nhân, nếu thực sự vĩ đại, thực sự đặc sắc, hoàn toàn có thể chi phối, định hướng cho quá trình sáng tạo các giá trị mới của cả một giai cấp, một cộng đồng, một quốc gia dân tộc, thậm chí là cả nhân loại.
Lịch sử chính trị thế giới đã ghi nhận văn hóa chính trị của các cá nhân như: C.Mác, Ph.Ăngghen, Lênin - những người đã làm thay đổi về chất quá trình ứng xử của giai cấp vô sản với quyền lực nhà nước của giai cấp tư sản và tạo cơ sở, nền tảng để các Đảng Cộng sản sáng tạo những giá trị mới của văn hóa lãnh đạo. Ở nước ta, Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất - Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng với khoảng thời gian 24 năm trên cương vị Chủ tịch Đảng - Văn hóa Hồ Chí Minh nói chung, văn hóa chính trị của Người nói riêng, trong đó có văn hóa lãnh đạo đã sớm trở thành nền tảng, chuẩn mực văn hóa lãnh đạo của Đảng ta. Thực tế cho thấy, ngay từ Đại hội II (2-1951), Đảng ta đã khẳng định: “Hồ Chủ tịch, người cộng sản Đông dương đầu tiên và là sáng lập viên của Đảng. Người đem thân thế và tài năng của mình hoàn toàn cống hiến cho Đảng và cho công cuộc giải phóng của giai cấp công nhân và dân tộc... Đường lối chính trị, nền nếp làm việc và đạo đức cách mạng của Đảng ta hiện nay là đường lối, tác phong và đạo đức Hồ Chủ tịch… Toàn Đảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong và đạo đức cách mạng của Hồ Chủ tịch; sự học tập ấy, là điều kiện tiên quyết làm cho Đảng mạnh và làm cho cách mạng đi mau đến thắng lợi hoàn toàn”[2]. Hơn nữa, Đảng ta đã khẳng định: “Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng”. Đây chính là cơ sở lý luận chắc chắn nhất về vai trò của cá nhân đối với cộng đồng, mà cụ thể là của C.Mác, Ph.Ănghgen, Lênin và Hồ Chí Minh đối với sự hình thành, phát triển văn hóa lãnh đạo của Đảng ta.
Văn hóa lãnh đạo Hồ Chí Minh là một bộ phận cấu thành văn hóa chính trị của Người, bao gồm những giá trị Chân, Thiện, Mĩ của tư tưởng và hành vi, được sản sinh ra trong quá trình hoạt động cách mạng với cương vị là người lãnh đạo, có vai trò quan trọng góp phần tạo nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam và là tài sản tinh thần to lớn của Đảng ta. Văn hóa lãnh đạo Hồ Chí Minh có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, mục tiêu duy nhất và xuyên suốt của sự lãnh đạo là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công trong xã hội. Với mục tiêu đó, Hồ Chí Minh đã lựa chọn chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và trong quá trình lãnh đạo luôn kiên định con đường cách mạng vô sản. Trên hành trình tìm đường cứu nước, bằng những trải nghiệm thực tế và sự dày công nghiên cứu, so sánh, Người đã rút ra kết luận: “Con đường tiến tới xã hội chủ nghĩa của các dân tộc là con đường chung của thời đại, của lịch sử, không ai ngăn cản nổi”[3]. Kết luận đó đã và đang được thực tiễn cách mạng thế giới kiểm nghiệm là hoàn toàn đúng đắn, hợp quy luật khách quan, xu thế thời đại và nguyện vọng của số đông quần chúng nhân dân.
Thứ hai, trong lãnh đạo, Hồ Chí Minh luôn đặt lợi ích của dân tộc và giai cấp lên trên hết, không ngừng củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân. Bởi lẽ, Người luôn quan niệm, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, ngoài lợi ích của dân tộc và giai cấp, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Vì vậy, toàn Đảng và mỗi đảng viên “Phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân; phải hiểu thấu rằng lợi ích của nhân dân tức là lợi ích của Đảng và phải đặt lợi ích của nhân dân và của Đảng lên trên hết, trước hết”[4]. Mặt khác, để hoàn thành sứ mệnh của mình với tư cách là đội tiền phong, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp và dân tộc, Đảng phải không ngừng củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân. Mọi hoạt động của đảng phải lấy lợi ích của giai cấp và dân tộc làm nền tảng, bởi theo Người: “Giai cấp mà không có Đảng lãnh đạo thì không làm cách mạng được, Đảng mà không có giai cấp công nhân cũng không làm được gì”[5].
       Thứ ba, luôn tiền phong, gương mẫu để cảm hóa quần chúng nhân dân là yếu tố quyết định địa vị lãnh đạo và cầm quyền của đảng. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đảng là một tổ chức tự nguyện của những người ưu tú nhất trong các tầng lớp nhân dân. Vì vậy, Đảng phải thực sự là người vạch đường, chỉ lối để dân tộc đi đến độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc và tiến bộ. Đảng viên phải là người đi đầu trong mọi hoạt động lý luận và thực tiễn với phương châm: “Đảng viên đi trước, làng nước đi sau”, phải biết “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Tiền phong gương mẫu để cảm hóa nhân dân vừa là phương thức biểu hiện quyền lực của Đảng, vừa là yếu tố bảo đảm cho Đảng giữ vững địa vị là đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền ở Việt Nam. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”[6].
Thứ tư, đảng phải là một khối thống nhất về ý chí và hành động, là hạt nhân của khối đại đoàn kết dân tộc, có tinh thần quốc tế, trong sáng, thủy chung. Hồ Chí Minh luôn nhận rõ vai trò to lớn của đoàn kết và không ngừng xây dựng, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong đảng để trên cơ sở đó xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế. Người đã chỉ rõ: “Đoàn kết đã đưa Đảng ta và nhân dân ta từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cho nên chúng ta quý trọng và ra sức bảo vệ sự đoàn kết nhất trí - trong Đảng và trong nhân dân ta cũng như giữa các đảng và giữa các nước anh em - như giữ gìn con ngươi của mình”[7].
Thứ năm, Đảng là người lãnh đạo nhưng đồng thời phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Bên cạnh việc đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng, Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi Đảng thực sự là người đầy tớ của nhân dân. Thực tế cho thấy, với mục tiêu, lý tưởng tất cả vì độc lập của dân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, trong suốt cuộc đời cách mạng của mình, dù ở bất cứ cương vị nào Người cũng luôn nhất quán một phương châm hành động: “Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”[8]. Phương châm đó là yếu tố quyết định việc hình thành phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh đó là: lãnh đạo phải xuất phát từ tâm tư, nguyện vọng, lợi ích của dân để xác định chủ trương, đường lối, biện pháp thực hiện và phải trở lại nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; lãnh đạo phải gần dân, sâu sát thực tế, tôn trọng dân, học hỏi dân, thực sự là công bộc, là đầy tớ trung thành của nhân dân.
Văn hóa lãnh đạo Hồ Chí Minh với những nét đặc trưng nêu trên đã bảo đảm cho Đảng ta thực sự là một đảng cách mạng chân chính, được nhân dân tin tưởng, đi theo Đảng, trao quyền lãnh đạo cho Đảng, quyết tâm bảo vệ Đảng và thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng đã đưa đến sự thay đổi diện mạo đời sống chính trị của đất nước, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ, sánh vai cùng các dân tộc khác trên con đường tiến tới văn minh. Nhân kỷ niệm ba mươi năm thành lập Đảng, Hồ Chí Minh đã khái quát: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh, Là thống nhất, độc lập, là hoà bình ấm no. Công ơn Đảng thật là to, Ba mươi năm lịch sử Đảng là cả một pho lịch sử bằng vàng.
Hiện nay sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, đã và đang đặt ra trên con đường phát triển của dân tộc cả thời cơ và thách thức, đòi hỏi Đảng ta phải không ngừng nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo để đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Tuy nhiên, trước sự tác động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả những đảng viên có chức, có quyền suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Tình trạng quan liêu, xa rời thực tế, cửa quyền, hách dịch, tham nhũng, lãng phí đã và đang gây bức xúc trong nhân dân, làm phai nhạt niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ. Mặt khác, các thế lực thù địch không ngừng tìm mọi cách chống phá Đảng, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, mua chuộc, lôi kéo, khống chế cán bộ, đảng viên, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng, đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam. Thực tế nêu trên càng đòi hỏi Đảng ta phải thấm nhuần văn hóa lãnh đạo Hồ Chí Minh, không ngừng bồi đắp và phát huy văn hóa lãnh đạo của Người trong tình hình mới.
Để văn hóa lãnh đạo Hồ Chí Minh tiếp tục tỏa sáng trong quá trình lãnh đạo của Đảng, trước hết cần khẳng định rằng: mặc dù điều kiện, hoàn cảnh có thay đổi đến đâu thì văn hóa lãnh đạo của Người vẫn mãi là chuẩn mực văn hóa lãnh đạo của Đảng ta. Trên cơ sở đó, các cấp ủy đảng quán triệt và cụ thể hóa thành các quy chế, quy định trong hoạt động lãnh đạo cũng như trong xác định tiêu chuẩn của cấp ủy viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy các cấp. Bên cạnh đó, đòi hỏi mỗi đảng viên phải không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao nhận thức về lý luận chính trị; về đảng chính trị và đảng cầm quyền; về quy luật vận động, phát triển tất yếu của nhân loại; về xu thế thời đại; về bản chất của cái gọi là “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” mà các phần tử phản động lợi dụng dân chủ đang ra sức hô hào. Tiếp tục đưa việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào chiều sâu, tức là phải thật sự làm theo, khắc phục tình trạng chỉ học mà không làm theo, thậm chí làm trái với những điều đã học. Mặt khác, cần phát huy vai trò của nhân dân, của các tổ chức quần chúng trong quản lý, rèn luyện đảng viên nói chung, trong kiểm soát quyền lực của những đảng viên có chức, có quyền nói riêng./.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t12, tr.9
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, Tập 11, tr.19.
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, Tập 8, tr.13.
[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, Tập 10, tr.477.
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, Tập 4, tr.168.
[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, Tập 14, tr.33.
[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, Tập 4, tr.21.