QUAN
ĐIỂM VŨ TRANG TỰ VỆ - NỘI DUNG CƠ BẢN
CỦA TƯ
TƯỞNG NHÂN VĂN QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH
TÓM
TẮT: Tư tưởng nhân văn quân sự Hồ Chí Minh bao gồm một hệ thống quan điểm đề
cao giá trị nhân văn, nhân đạo, sự yêu thương, quý trọng con người và quyền
bình đẳng giữa các dân tộc trong các hoạt động quân sự. Trong đó, quan điểm vũ
trang tự vệ là nội dung cơ bản, xuyên suốt nhất. Khẳng định vấn đề này góp phần
làm thất bại âm mưu xuyên tạc, hạ thấp giá trị của di sản quân sự Hồ Chí Minh.
Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh thể
hiện ở mọi di sản mà Người để lại, nhưng nét đặc sắc nhất là điều đó được khẳng
định ngay trong tư tưởng quân sự, trong đó quan điểm về vũ trang tự vệ là một nội
dung cơ bản. Mặc dù vậy, các thế lực thù địch luôn phủ nhận tính chất nhân văn của
hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc mà nhân dân ta đã tiến hành thắng lợi trên
nền tảng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Họ xuyên tạc rằng, với tư tưởng ham bạo
lực, Hồ Chí Minh là người đã gây nên sự hy sinh vô ích trong hai cuộc kháng chiến
chống Pháp và chống Mĩ. Vì vậy, nhận rõ quan điểm tự vệ là cơ sở để củng cố niềm
tin vào tính nhân văn của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.
Tự
vệ là quyền tự nhiên của mọi người, mọi tổ chức, cộng đồng dân tộc, trong đó tự
vệ bằng hình thức vũ trang là quyền cuối cùng chỉ sử dụng khi không còn hình thức
tự vệ nào khác. Quan điểm về vũ trang tự vệ của Hồ Chí Minh không chỉ là sự tiếp
nối và phát triển truyền thống nhân văn, nhân đạo, yêu chuộng hòa bình của dân
tộc Việt Nam - một dân tộc chỉ tiến hành các hoạt động quân sự trong tình huống
bắt buộc, mà còn là sự kế thừa, phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về
tính chính nghĩa của các hoạt động quân sự. Như Hồ Chí Minh đã khái quát: “Dân
ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa
đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết
thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó
khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[1].
Quan
điểm về vũ trang tự vệ là quan điểm xuyên suốt, nhất quán trong tư tưởng quân sự
Hồ Chí Minh. Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, Người chỉ rõ: “Độc lập,
tự do không thể cầu xin mà có được”. Tức là phải tự lực, tự cường và nếu không
tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ người khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc
lập. Thấm nhuần quan điểm ấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, nhân
dân ta đã tiến hành khởi nghĩa vũ trang, lật đổ ách thống trị của thực dân,
Phong kiến. Sau Cách mạng Tháng tám chưa đầy một tháng, với âm mưu cướp nước ta
một lần nữa, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp tiếp tục nổ súng ở miền Nam, buộc
nhân dân Nam Bộ nói riêng, cả nước nói chung lại bước vào cuộc chiến tranh tự vệ
mới. Trong Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ
(30-10-1945), Hồ Chí Minh viết: “Hỡi anh chị em thanh niên Nam Bộ! Tôi thề cùng
các bạn giữ vững nền độc lập tự do của nước Việt Nam. Dẫu có phải hy sinh đến nửa
số dân tộc, ta cũng quyết hy sinh. Cuộc kháng chiến tự vệ chính nghĩa của dân tộc
Viêt Nam phải toàn thắng”[2]. Sau đó,
trong bài nói chuyện tại Trường cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh (7-1-1946), Người đã
giải thích: “Nếu không bị uy hiếp, chúng ta không cần có tự vệ. Tự vệ là vệ lấy
mình, lấy gia đình mình, rồi đến thành phố mình, nước mình. Ta phải ngăn ngừa mọi
sự uy hiếp”[3].
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm
về vũ trang tự vệ là cơ sở để xác định hình thức tổ chức lực lượng và nghệ thuật
quân sự. Theo Người, về mặt chiến lược, vũ trang tự vệ có thể trường kỳ kháng
chiến; về hình thức tổ chức lực lượng, vũ trang tự vệ cần được tổ chức thành ba
thứ quân với chức năng nhiệm vụ khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ
nhau; về cách đánh, có thể kết hợp sử dụng nhiều cách đánh sao cho phù hợp với khả
năng của từng lực lượng, từng trận đánh. Trong đó, hết sức coi trọng cách đánh
du kích để tiêu hao lực lượng địch, làm cho đối phương dần suy yếu và đi đến thất
bại. Người chỉ rõ: “chiến lược tiêu hao lực lượng của địch là chiến lược rất mầu
nhiệm trong cuộc chiến tranh tự vệ”[4].
Vũ trang tự vệ là hoạt động quân sự
chính nghĩa của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, không bao giờ muốn chiến
tranh. Do vậy, nó được sử dụng để giành, giữ bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo
vệ tính mạng, tài sản của nhân dân trước sự xâm lược của ngoại bang, nên nó thể
hiện rõ tính chất nhân văn, nhân đạo. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân
dân ta cần hòa bình để xây dựng đất nước và củng cố lực lượng về mọi mặt. Chúng
ta đã nhân nhượng và ký với Chính phủ Pháp Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm
ước ngày 14-9-1946. Nhưng, ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới. Vì
vậy, trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến, với tinh thần tự vệ cao nhất, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chúng ta thà
hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô
lệ”. Trong Lời kêu gọi Liên Hợp Quốc,
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một lần nữa chúng tôi khẳng định lòng mong muốn hòa bình bằng
cách chấp nhận Tạm ước 14-9-1946 mà cốt lõi là nhằm vào việc bảo vệ những lợi
ích kinh tế và văn hoá của Pháp ở Việt Nam”[5].
Tuy nhiên, do những người đại diện Pháp ở Đông Dương đã không tôn trọng các điều
khoản của tạm ước và rắp tâm cướp nước ta một lần nữa. Do vậy, Hồ Chí Minh khẳng
định: “Là nạn nhân của một cuộc xâm lược có chủ định từ trước, chúng tôi buộc
phải tự vệ chống lại một đối phương đang thực hiện phương pháp của một cuộc chiến
tranh tổng lực như những cuộc bắn phá dã man làng mạc và dân thường”[6].
Cuộc kháng chiến chống Pháp của
nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh tự vệ bắt buộc để bảo vệ chính quyền non
trẻ, bảo vệ quyền tự quyết dân tộc, bảo vệ danh dự và nhân phẩm của một dân tộc.
Tuy nhiên, cuộc chiến tranh đó chỉ để đánh bại ý chí xâm lược của một số kẻ hiếu
chiến. Theo Hồ Chí Minh, “Nhân dân Việt
Nam đã bị chính sách vũ lực, chính sách xâm lăng của một vài người đại diện
Pháp ở Đông Dương xô đẩy vào một cuộc chiến tranh tự vệ thảm khốc”[7].
Do đó, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, kể cả khi đấu tranh giành chính quyền từ tay
thực dân Pháp cũng như khi tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp, không bao giờ
Người coi mọi người pháp là kẻ thù của nhân dân Việt Nam, mà chỉ là chính quyền
thực dân và những kẻ hiếu chiến mà thôi. Người viết: “Trước bạo lực của thực
dân phản động Pháp, chúng tôi cần phải tự vệ. Nhưng đối với nhân dân Pháp,
chúng tôi vẫn giữ chính sách cộng tác thật thà. Chúng tôi chỉ muốn độc lập và
thống nhất. Chúng tôi chỉ muốn hoà bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh,
nhưng chúng tôi quyết tự vệ đến giọt máu cuối cùng. Chúng tôi quyết không chịu
mất nước làm nô lệ thực dân lần nữa. Mong Chính phủ, Nghị viện và nhân dân Pháp
hiểu cho. Mong các nước dân chủ trên thế giới hiểu cho”[8].
Với tinh thần tự vệ và ý chí tự lực, tự cường cao cả, dưới sự lãnh đạo của Đảng
và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên, chấn động
địa cầu.
Mặc dù vậy, ngay sau đó, nhân dân
ta lại một lần nữa phải đứng lên tiến hành cuộc chiến tranh tự vệ chống đế quốc
Mĩ xâm lược, hòng chia cắt đất nước ta làm đôi. Trong khi trả lời các nhà báo,
Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh tính chất tự vệ chính nghĩa của cuộc chiến. Người chỉ
rõ: “Nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa luôn luôn
tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh Hiệp nghị Giơnevơ năm 1954. Nhưng vì đế quốc
Mỹ đã có những hành động gây chiến đối với nước chúng tôi, cho nên nhân dân
chúng tôi phải dùng biện pháp tự vệ cần thiết để giữ gìn chủ quyền và an ninh của
nước chúng tôi”[9]. Cuộc
chiến tranh tự vệ chống đế quốc Mĩ mà nhân dân Việt Nam tiến hành, chẳng những
có giá trị nhân văn, nhân đạo đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với khu vực
và thế giới. Người chỉ rõ: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi phải kiên quyết đấu
tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược để tự vệ, để bảo vệ những quyền dân tộc thiêng
liêng nhất của mình, đồng thời góp phần giữ gìn hòa bình ở châu Á và thế giới”[10].
Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, cuộc chiến tranh tự vệ của
nhân dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn, đúng như dự báo của Hồ Chí Minh khi
Người nói: “Đế quốc Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo nhất
trong lịch sử chống nhân dân Việt Nam. Sử dụng quyền tự vệ thiêng liêng của
mình, toàn thể nhân dân Việt Nam đã kiên quyết chống lại để bảo vệ độc lập, tự
do và đã liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn và nhất định sẽ giành được
thắng lợi cuối cùng”[11].
Như vậy, quan điểm vũ trang tự vệ
là quan điểm xuyên suốt, chỉ đạo mọi suy nghĩ và hành động quân sự của Hồ Chí
Minh, là cốt lõi trong tư tưởng nhân văn quân sự của Người. Thực tiễn các hoạt
động quân sự của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Hồ Chí
Minh là minh chứng rõ nét, chân thực nhất về tính nhân văn, nhân đạo cao cả của
tư tưởng, hành vi và nhân cách của Người trong lĩnh vực quân sự.
Quan điểm vũ trang tự vệ của Hồ Chí
Minh đã tiếp nối và phát triển đến đỉnh cao truyền thống nhân văn quân sự của
dân tộc. Quan điểm đó đã cho phép phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước
và con người Việt Nam, tạo nên sức mạnh to lớn trong khởi nghĩa vũ trang giành
chính quyền và trong hai cuộc chiến tranh cách mạng vĩ đại. Tính nhân văn, nhân
đạo của quan điểm vũ trang tự vệ đã nhận được sự chia sẻ, đồng tình ủng hộ và sự
giúp đỡ to lớn của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới cho các hoạt động
quân sự của cách mạng Việt Nam. Quan điểm vũ trang tự vệ của Hồ Chí Minh tiếp tục
được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta quán triệt, phát huy trong điều kiện mới. Đảng
ta luôn khẳng định, củng cố quốc phòng, hiện đại hóa quân đội chỉ để sẵn sàng đập
tan mọi âm mưu xâm lược, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và
toàn vẹn lãnh thổ của đất nước chứ không nhằm phục vụ cho các hoạt động quân sự
ngoài lãnh thổ Việt Nam./.
[1] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2011, t7, tr.38.
[2] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2011, t4, tr.90.
[3] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2011, t4, tr.170.
[4] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2011, t4, tr.516.
[5] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2011, t4, tr.522.
[6] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2011, t4, tr.522.
[7] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2011, t5, tr.14.
[8] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2011, t5, tr.138.
[9] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2011, t14, tr.369.
[10]Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2011, t14, tr.661.
[11]
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2011, t15, tr.492.