HỒ CHÍ MINH - NHÀ VĂN HÓA KIỆT XUẤT

Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2017

QUAN ĐIỂM VŨ TRANG TỰ VỆ - NỘI DUNG CƠ BẢN
CỦA TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH

TÓM TẮT: Tư tưởng nhân văn quân sự Hồ Chí Minh bao gồm một hệ thống quan điểm đề cao giá trị nhân văn, nhân đạo, sự yêu thương, quý trọng con người và quyền bình đẳng giữa các dân tộc trong các hoạt động quân sự. Trong đó, quan điểm vũ trang tự vệ là nội dung cơ bản, xuyên suốt nhất. Khẳng định vấn đề này góp phần làm thất bại âm mưu xuyên tạc, hạ thấp giá trị của di sản quân sự Hồ Chí Minh.

Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh thể hiện ở mọi di sản mà Người để lại, nhưng nét đặc sắc nhất là điều đó được khẳng định ngay trong tư tưởng quân sự, trong đó quan điểm về vũ trang tự vệ là một nội dung cơ bản. Mặc dù vậy, các thế lực thù địch luôn phủ nhận tính chất nhân văn của hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc mà nhân dân ta đã tiến hành thắng lợi trên nền tảng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Họ xuyên tạc rằng, với tư tưởng ham bạo lực, Hồ Chí Minh là người đã gây nên sự hy sinh vô ích trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Vì vậy, nhận rõ quan điểm tự vệ là cơ sở để củng cố niềm tin vào tính nhân văn của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.
Tự vệ là quyền tự nhiên của mọi người, mọi tổ chức, cộng đồng dân tộc, trong đó tự vệ bằng hình thức vũ trang là quyền cuối cùng chỉ sử dụng khi không còn hình thức tự vệ nào khác. Quan điểm về vũ trang tự vệ của Hồ Chí Minh không chỉ là sự tiếp nối và phát triển truyền thống nhân văn, nhân đạo, yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam - một dân tộc chỉ tiến hành các hoạt động quân sự trong tình huống bắt buộc, mà còn là sự kế thừa, phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về tính chính nghĩa của các hoạt động quân sự. Như Hồ Chí Minh đã khái quát: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[1].
Quan điểm về vũ trang tự vệ là quan điểm xuyên suốt, nhất quán trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, Người chỉ rõ: “Độc lập, tự do không thể cầu xin mà có được”. Tức là phải tự lực, tự cường và nếu không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ người khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập. Thấm nhuần quan điểm ấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã tiến hành khởi nghĩa vũ trang, lật đổ ách thống trị của thực dân, Phong kiến. Sau Cách mạng Tháng tám chưa đầy một tháng, với âm mưu cướp nước ta một lần nữa, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp tiếp tục nổ súng ở miền Nam, buộc nhân dân Nam Bộ nói riêng, cả nước nói chung lại bước vào cuộc chiến tranh tự vệ mới. Trong Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ (30-10-1945), Hồ Chí Minh viết: “Hỡi anh chị em thanh niên Nam Bộ! Tôi thề cùng các bạn giữ vững nền độc lập tự do của nước Việt Nam. Dẫu có phải hy sinh đến nửa số dân tộc, ta cũng quyết hy sinh. Cuộc kháng chiến tự vệ chính nghĩa của dân tộc Viêt Nam phải toàn thắng”[2]. Sau đó, trong bài nói chuyện tại Trường cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh (7-1-1946), Người đã giải thích: “Nếu không bị uy hiếp, chúng ta không cần có tự vệ. Tự vệ là vệ lấy mình, lấy gia đình mình, rồi đến thành phố mình, nước mình. Ta phải ngăn ngừa mọi sự uy hiếp”[3].
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm về vũ trang tự vệ là cơ sở để xác định hình thức tổ chức lực lượng và nghệ thuật quân sự. Theo Người, về mặt chiến lược, vũ trang tự vệ có thể trường kỳ kháng chiến; về hình thức tổ chức lực lượng, vũ trang tự vệ cần được tổ chức thành ba thứ quân với chức năng nhiệm vụ khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau; về cách đánh, có thể kết hợp sử dụng nhiều cách đánh sao cho phù hợp với khả năng của từng lực lượng, từng trận đánh. Trong đó, hết sức coi trọng cách đánh du kích để tiêu hao lực lượng địch, làm cho đối phương dần suy yếu và đi đến thất bại. Người chỉ rõ: “chiến lược tiêu hao lực lượng của địch là chiến lược rất mầu nhiệm trong cuộc chiến tranh tự vệ”[4].
Vũ trang tự vệ là hoạt động quân sự chính nghĩa của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, không bao giờ muốn chiến tranh. Do vậy, nó được sử dụng để giành, giữ bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân trước sự xâm lược của ngoại bang, nên nó thể hiện rõ tính chất nhân văn, nhân đạo. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân ta cần hòa bình để xây dựng đất nước và củng cố lực lượng về mọi mặt. Chúng ta đã nhân nhượng và ký với Chính phủ Pháp Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước ngày 14-9-1946. Nhưng, ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới. Vì vậy, trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, với tinh thần tự vệ cao nhất, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Trong Lời kêu gọi Liên Hợp Quốc, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một lần nữa chúng tôi khẳng định lòng mong muốn hòa bình bằng cách chấp nhận Tạm ước 14-9-1946 mà cốt lõi là nhằm vào việc bảo vệ những lợi ích kinh tế và văn hoá của Pháp ở Việt Nam”[5]. Tuy nhiên, do những người đại diện Pháp ở Đông Dương đã không tôn trọng các điều khoản của tạm ước và rắp tâm cướp nước ta một lần nữa. Do vậy, Hồ Chí Minh khẳng định: “Là nạn nhân của một cuộc xâm lược có chủ định từ trước, chúng tôi buộc phải tự vệ chống lại một đối phương đang thực hiện phương pháp của một cuộc chiến tranh tổng lực như những cuộc bắn phá dã man làng mạc và dân thường”[6].
Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh tự vệ bắt buộc để bảo vệ chính quyền non trẻ, bảo vệ quyền tự quyết dân tộc, bảo vệ danh dự và nhân phẩm của một dân tộc. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh đó chỉ để đánh bại ý chí xâm lược của một số kẻ hiếu chiến. Theo Hồ Chí Minh,  “Nhân dân Việt Nam đã bị chính sách vũ lực, chính sách xâm lăng của một vài người đại diện Pháp ở Đông Dương xô đẩy vào một cuộc chiến tranh tự vệ thảm khốc”[7]. Do đó, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, kể cả khi đấu tranh giành chính quyền từ tay thực dân Pháp cũng như khi tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp, không bao giờ Người coi mọi người pháp là kẻ thù của nhân dân Việt Nam, mà chỉ là chính quyền thực dân và những kẻ hiếu chiến mà thôi. Người viết: “Trước bạo lực của thực dân phản động Pháp, chúng tôi cần phải tự vệ. Nhưng đối với nhân dân Pháp, chúng tôi vẫn giữ chính sách cộng tác thật thà. Chúng tôi chỉ muốn độc lập và thống nhất. Chúng tôi chỉ muốn hoà bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh, nhưng chúng tôi quyết tự vệ đến giọt máu cuối cùng. Chúng tôi quyết không chịu mất nước làm nô lệ thực dân lần nữa. Mong Chính phủ, Nghị viện và nhân dân Pháp hiểu cho. Mong các nước dân chủ trên thế giới hiểu cho”[8]. Với tinh thần tự vệ và ý chí tự lực, tự cường cao cả, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên, chấn động địa cầu.
Mặc dù vậy, ngay sau đó, nhân dân ta lại một lần nữa phải đứng lên tiến hành cuộc chiến tranh tự vệ chống đế quốc Mĩ xâm lược, hòng chia cắt đất nước ta làm đôi. Trong khi trả lời các nhà báo, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh tính chất tự vệ chính nghĩa của cuộc chiến. Người chỉ rõ: “Nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa luôn luôn tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh Hiệp nghị Giơnevơ năm 1954. Nhưng vì đế quốc Mỹ đã có những hành động gây chiến đối với nước chúng tôi, cho nên nhân dân chúng tôi phải dùng biện pháp tự vệ cần thiết để giữ gìn chủ quyền và an ninh của nước chúng tôi”[9]. Cuộc chiến tranh tự vệ chống đế quốc Mĩ mà nhân dân Việt Nam tiến hành, chẳng những có giá trị nhân văn, nhân đạo đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với khu vực và thế giới. Người chỉ rõ: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi phải kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược để tự vệ, để bảo vệ những quyền dân tộc thiêng liêng nhất của mình, đồng thời góp phần giữ gìn hòa bình ở châu Á và thế giới”[10]. Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, cuộc chiến tranh tự vệ của nhân dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn, đúng như dự báo của Hồ Chí Minh khi Người nói: “Đế quốc Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo nhất trong lịch sử chống nhân dân Việt Nam. Sử dụng quyền tự vệ thiêng liêng của mình, toàn thể nhân dân Việt Nam đã kiên quyết chống lại để bảo vệ độc lập, tự do và đã liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn và nhất định sẽ giành được thắng lợi cuối cùng”[11].
Như vậy, quan điểm vũ trang tự vệ là quan điểm xuyên suốt, chỉ đạo mọi suy nghĩ và hành động quân sự của Hồ Chí Minh, là cốt lõi trong tư tưởng nhân văn quân sự của Người. Thực tiễn các hoạt động quân sự của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Hồ Chí Minh là minh chứng rõ nét, chân thực nhất về tính nhân văn, nhân đạo cao cả của tư tưởng, hành vi và nhân cách của Người trong lĩnh vực quân sự.
Quan điểm vũ trang tự vệ của Hồ Chí Minh đã tiếp nối và phát triển đến đỉnh cao truyền thống nhân văn quân sự của dân tộc. Quan điểm đó đã cho phép phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước và con người Việt Nam, tạo nên sức mạnh to lớn trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền và trong hai cuộc chiến tranh cách mạng vĩ đại. Tính nhân văn, nhân đạo của quan điểm vũ trang tự vệ đã nhận được sự chia sẻ, đồng tình ủng hộ và sự giúp đỡ to lớn của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới cho các hoạt động quân sự của cách mạng Việt Nam. Quan điểm vũ trang tự vệ của Hồ Chí Minh tiếp tục được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta quán triệt, phát huy trong điều kiện mới. Đảng ta luôn khẳng định, củng cố quốc phòng, hiện đại hóa quân đội chỉ để sẵn sàng đập tan mọi âm mưu xâm lược, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước chứ không nhằm phục vụ cho các hoạt động quân sự ngoài lãnh thổ Việt Nam./.

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t7, tr.38.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t4, tr.90.
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t4, tr.170.
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t4, tr.516.
[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t4, tr.522.
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t4, tr.522.
[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t5, tr.14.
[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t5, tr.138.
[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t14, tr.369.
[10]Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t14, tr.661.
[11] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t15, tr.492.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét