VĂN HÓA CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH

HỒ CHÍ MINH - NHÀ VĂN HÓA KIỆT XUẤT

Thứ Tư, 30 tháng 8, 2017

XÂY DỰNG NHÂN CÁCH CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH
CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở ĐƠN VỊ CƠ SỞ
TRONG QUÂN ĐỘI
Nhân cách chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội nói chung, cấp cơ sở nói riêng là phẩm chất quan trọng của“Bộ đội Cụ Hồ”, bảo đảm cho quân đội ta trở thành lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong hơn 70 năm qua. Tuy nhiên, giai đoạn cách mạng mới đang đặt ra những yêu cầu rất cao về nhân cách chính trị. Do đó, việc xây dựng nhân cách chính trị Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở trong quân đội hiện nay là vấn đề có ý nghĩa chính trị to lớn.
Đơn vị cơ sở trong quân đội có vai trò hết sức quan trọng, bảo đảm cho quân đội hoàn thành chức năng, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Tuy nhiên, trước tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường và sự chống phá của các thế lực thù địch, để hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên ở đơn vị cơ sở phải thực sự là một nhân cách chính trị tiêu biểu. Mặc dù vậy, các biểu hiện như: thiếu đoàn kết nội bộ “bằng mặt, không bằng lòng”; tư tưởng thực dụng, cá nhân chủ nghĩa; thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới; bi quan, giao động trước những hạn chế, khuyết điểm trong quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước đã và đang trở thành lực cản trong quá trình xây dựng đơn vị cơ sở về chính trị. Mặt khác, cùng với xu thế hội nhập quốc tế, sự lan tỏa, giao lưu và cạnh tranh giữa các giá trị chính trị khác nhau ngày càng gay gắt và quyết liệt. Đặc biệt, hiện nay chủ nghĩa tư bản đã và đang có những điều chỉnh nhất định để phù hợp với sự phát triển của trình độ dân trí và khoa học, công nghệ. Trong khi đó, chủ nghĩa xã hội, mặc dù đã có sự phục hồi nhất định nhưng vẫn đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, những thách thức an ninh phi truyền thống đã tác động tiêu cực đến sự phát triển của mô hình chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI ở các nước Mỹ La Tinh. Những yếu tố đó đặt ra sự cần thiết và yêu cầu mới cho nhân cách chính trị của cán bộ, đảng viên trong quân đội nói chung, ở đơn vị cơ sở nói riêng.
Nhân cách chính trị Hồ Chí Minh là tổng hòa các giá trị được hình thành, phát triển trong quá trình hoạt động cách mạng của Người; phản ánh mục tiêu, lý tưởng, cách thức giải quyết các mối quan hệ giữa trách nhiệm cá nhân với vận mệnh của quốc gia, dân tộc; giữa cá nhân với cộng đồng, giữa con người chính trị với thể chế chính trị; giữa người lãnh đạo, quản lý với đối tượng lãnh đạo, quản lý. Trên thực tế, nhân cách chính trị Hồ Chí Minh đã là cơ sở để thức tỉnh tinh thần và ý thức chính trị của các tầng lớp nhân dân, phát huy cao độ sức mạnh của mọi giai cấp, tầng lớp xã hội trong đấu tranh cách mạng; tác động trực tiếp đến việc tạo ra các thế hệ cán bộ, đảng viên hết lòng vì dân, vì nước, vì thắng lợi của mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới; cảm hóa được những người lầm lỗi và cả những binh lính đối phương để tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo đảm cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Thực tế đã cho thấy, nhân cách chính trị Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong hệ thống di sản mà Người để lại cho Đảng và nhân dân ta, không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có giá trị hiện thực to lớn, đã và đang trở thành chuẩn mực của nhân cách chính trị Việt Nam hiện đại. Theo đó, xây dựng nhân cách chính trị Hồ Chí Minh là tổng thể các hoạt động nhằm làm cho nhân cách của mỗi cán bộ, đảng viên ở đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay đáp ứng được một số yêu cầu sau:
1. Phải thực sự tiêu biểu về đạo đức: trí, dũng, liêm, trung của người quân nhân cách mạng. Với tư cách là những người tiêu biểu nhất về lý luận và thực tiễn, có vai trò lãnh đạo, quản lý, chỉ huy bộ đội, ngoài những phẩm chất đạo đức của người quân nhân cách mạng, cán bộ, đảng viên còn phải có thêm: Nhân và Tín. Hồ Chí Minh yêu cầu: "Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là: Phải: Trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung"[1]. Mặt khác, cán bộ, đảng viên trong quân đội phải có nhận thức chính trị đúng đắn, khoa học, phân biệt rõ đối tượng tác chiến; nhận rõ những thời cơ, thuận lợi cũng như những khó khăn, thách thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; có thái độ khách quan trước sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên và những hạn chế, khuyết điểm của Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, quản lý. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên trong quân đội cần có thái độ kiên quyết, kiên trì trong thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí và bệnh hình thức, đề cao trách nhiệm cá nhân trong lãnh đạo, quản lý, chỉ huy bộ đội.
2. Luôn tích cực, chủ động, tự giác trong học tập, không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt để đáp ứng yêu cầu huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu: “Phải cố gắng học tập về mọi mặt chính trị, quân sự... Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại... chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc”[2]. Hơn nữa, cán bộ, đảng viên trong quân đội là những người tự giác đứng trong hàng ngũ của Đảng, lựa chọn phục vụ lâu dài trong môi trường hoạt động quân sự để góp phần hiện thực hóa mục tiêu chính trị của cách mạng. Vì vậy, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng luôn đặt lợi ích của Đảng, của quân đội lên trên hết, chủ động khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành tốt nhất chức trách, nhiệm vụ được giao.
3. Với tính cách là hạt nhân đoàn kết, là người chịu trách nhiệm xây dựng và củng cố khối đoàn kết, thống nhất giữa các quân nhân trong đơn vị và giữa đơn vị với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và nhân dân địa phương - mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự tiêu biểu về tinh thần đoàn kết, ý thức tập thể, gương mẫu đi đầu trong chấp hành kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước và kỷ luật của quân đội. Để củng cố, tăng cường đoàn kết, mỗi cán bộ, đảng viên trong quân đội cần quán triệt sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Cán bộ có thân đội viên như chân tay, thì đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt. Có như thế thì chỉ thị, mệnh lệnh và kế hoạch cấp trên đưa xuống, đội viên sẽ tích cực và triệt để thi hành”[3].
Để xây dựng nhân cách chính trị Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội hiện nay, cần tiến hành một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, tích cực nghiên cứu xác lập nội dung, chủ động đổi mới hình thức phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh và thực hiện có hiệu quả chỉ thị 05/CT-TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Trên cơ sở đó, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận rõ vai trò và ý nghĩa của nhân cách chính trị Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp chính trị của Người và thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Mặt khác, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên hiểu được mối quan hệ biện chứng và vai trò to lớn của nhân cách chính trị đối với sự nghiệp xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, lấy vững mạnh về chính trị làm cơ sở.
Hai là, Bảo đảm đúng, đủ chương trình, thời gian học tập chính trị của các đối tượng cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt đề án của Bộ Quốc phòng về “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Nâng cao chất lượng xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), nghiêm túc thực hành tự phê bình và phê bình, tăng cường tính nghiêm minh của kỷ luật Đảng. Kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, tham nhũng, lãng phí và bệnh hình thức trong quản lý, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Thực hiện tốt quy chế dân chủ, bảo đảm tính công tâm, khách quan trong mọi hoạt động lãnh đạo, chỉ huy, hình thành cơ chế và tạo điều kiện để mỗi quân nhân có thể giám sát nhân cách chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên.
Ba là, nâng cao chất lượng, hiệu quả các mặt hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, bảo đảm tính vững chắc cho trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội. Thường xuyên củng cố, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội. Phát huy cao độ vai trò làm gương của người đứng đầu các cấp ủy, tổ chức đảng. Đặc biệt, cần làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, không để các yếu tố tác động từ bên ngoài làm tha hóa nhân cách chính trị của cán bộ, đảng viên. Quản lý tốt các mối quan hệ cá nhân của cán bộ, đảng viên, không để kẻ xấu kích động, lôi kéo, mua chuộc vì lối sống thực dụng, chạy theo vật chất. Kịp thời phát hiện và ngăn chặn mọi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội./.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.479.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.217-218.
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.458..
ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH

TS NGUYỄN HỮU LẬP
Mỗi nhân cách chính trị đều vừa là khách thể, vừa là chủ thể của một nền chính trị. Trong đó nhân cách chính trị của những vĩ nhân có tác động đến sự tồn vong của nền chính trị đó. Thực tế lịch sử cho thấy, nhân cách chính trị Hồ Chí Minh với những đặc điểm nổi bật có tác động to lớn đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là chuẩn mực để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta học tập, làm theo.
Nhân cách chính trị là bộ phận quan trọng cấu thành nhân cách của một cá nhân trong xã hội có giai cấp, được hình thành, phát triển, hoàn thiện trong quá trình cá nhân đó ứng xử với môi trường chính trị và với các nhân cách chính trị khác. Nó bao gồm những yếu tố tạo thành nét đặc trưng của văn hóa chính trị ở mỗi con người trong một môi trường chính trị nhất định. Có thể khái quát rằng, nhân cách chính trị là cách mà con người sống và thể hiện mình trong một môi trường chính trị cụ thể. Theo đó, môi trường và thể chế chính trị sẽ chi phối, tác động và quy định nhân cách chính trị của cá nhân. Nói cách khác, nhân cách chính trị luôn mang tính xã hội sâu sắc. Tuy nhiên, với cùng một môi trường và thể chế chính trị nhất định nhưng luôn có sự khác nhau giữa các nhân cách chính trị. Bởi bên cạnh sự ảnh hưởng của hoàn cảnh khách quan thì nhân cách chính trị của mỗi cá nhân còn bị chi phối bởi nhãn quan chính trị, năng lực chủ quan của chính cá nhân đó. Vì thế, có những nhân cách tiêu biểu, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của chính trị theo đúng quy luật xã hội, trở thành chuẩn mực chung của một cộng đồng, một quốc gia, dân tộc. Bên cạnh đó, cũng có những nhân cách chính trị không phù hợp với sự phát triển của xã hội và trở thành lực cản, thậm chí đi ngược lại mục tiêu xây dựng một thể chế chính trị tiến bộ, dân chủ, nhân văn và nhân đạo.
Lịch sử chính trị Việt Nam cho thấy, môi trường và thể chế chính trị thuộc địa, nửa phong kiến giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã tạo ra những nhân cách chính trị phục tùng sự thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai. Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản lần đầu vào năm 1925, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Người Aixơlen, Ai Cập, Triều Tiên, Ấn Độ, tất cả những người chiến bại hôm qua và nô lệ hôm nay đó, đương đấu tranh dũng cảm cho nền độc lập ngày mai của họ. Riêng người An Nam, thì vẫn cứ thế: sẵn sàng làm nô lệ”[1]. Tuy nhiên, bên cạnh đó rất nhiều những nhân cách chính trị Việt Nam không cam chịu thân phận nô lệ và thể chế chính trị áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, đã tạo nên phong trào đấu tranh chống Pháp rộng khắp trên cả nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám... Mặc dù vậy, cho đến khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các cuộc đấu tranh đó đều chưa giành thắng lợi.
Thực tế đã chứng minh, trong số những nhân cách chính trị tiêu biểu của dân tộc với tư cách là lãnh tụ của các phong trào đấu tranh chống Pháp để giải phóng dân tộc, chỉ có nhân cách chính trị Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trở thành chuẩn mực của nhân cách chính trị Việt Nam hiện đại. Nhân cách chính trị Hồ Chí Minh là tổng hòa các giá trị được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động cách mạng của Người; phản ánh mục tiêu, lý tưởng, cách thức giải quyết mối quan hệ giữa trách nhiệm cá nhân với vận mệnh của quốc gia, dân tộc, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa con người chính trị với thể chế chính trị, giữa người lãnh đạo, quản lý với đối tượng lãnh đạo, quản lý; có tính ổn định, bền vững, tính cách mạng và nhân văn triệt để. Nói tóm lại, đó là một nhân cách chính trị thân dân, gần dân, tất cả vì dân.
Với tính cách là tập hợp các giá trị về mục tiêu, lý tưởng, lập trường, bản lĩnh và đạo đức chính trị - nhân cách chính trị Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng cấu thành văn hóa chính trị của Người. Những giá trị đó có vai trò là nền tảng cho sự hình thành, phát sinh, phát triển và hoàn thiện các nhóm giá trị khác trong văn hóa chính trị như, các giá trị tư tưởng và giá trị hành vi. Trên thực tế, nhân cách chính trị Hồ Chí Minh đã là cơ sở để thức tỉnh tinh thần và ý thức chính trị của các tầng lớp nhân dân, phát huy cao độ sức mạnh của quần chúng trong đấu tranh cách mạng; tác động trực tiếp đến việc tạo ra các thế hệ cán bộ, đảng viên hết lòng vì dân, vì nước, vì thắng lợi của mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới; cảm hóa được những người lầm lỗi và cả những binh lính đối phương để tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo đảm cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Có thể khái quát đặc điểm của nhân cách chính trị Hồ Chí Minh như sau:
Một là, luôn đề cao trách nhiệm cá nhân trước vận mệnh của quốc gia, dân tộc, chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh vì độc lập của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Thực tế cho thấy, dưới sự thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, Tổ quốc ta chìm trong đêm dài nô lệ, nhân dân đói khổ, lầm than, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra nhưng không giành thắng lợi. Trước thực trạng đó, Nguyễn Tất Thành đã sớm hình thành chí hướng và nung nấu tư tưởng tìm một con đường cứu nước mới để giải phóng dân tộc, giúp đồng bào mình thoát khỏi cảnh thống khổ của người dân mất nước. Ngay từ khi còn là một thiếu niên, Người đã nghĩ đến trách nhiệm của cá nhân đối với Tổ quốc và quyết tâm đấu tranh cho độc lập của dân tộc; tự do, ấm no hạnh phúc của nhân dân. Trước nhiều câu hỏi lớn liên quan đến vận mệnh của quốc gia, dân tộc chưa có lời giải, Người đã xác định, phải đi ra nước ngoài xem người ta làm như thế nào rồi trở về giúp đồng bào mình.
Theo Hồ Chí Minh, xã hội càng phát triển đòi hỏi tính cộng đồng và trách nhiệm cá nhân của con người ngày càng cao. Đặc biệt, trong đấu tranh giai cấp càng cần có sự đoàn kết giữa những cá nhân cùng giai cấp và giữa các giai cấp có chung lợi ích. Mặt khác, Người cho rằng, “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”. Vì vậy, dân là gốc của nước, có dân mới có nước. Tuy nhiên, nước mất thì nhà tan, nước mất độc lập thì dân không thể có tự do. Vì vậy, mỗi cá nhân phải có trách nhiệm với cộng đồng, với sự hưng vong của quốc gia, dân tộc. Ý thức rõ điều đó, Hồ Chí Minh đã dấn thân làm cách mạng và chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh, đấu tranh đến hơi thở cuối cùng vì nền độc lập và sự phát triển bền vững của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
Trong nhân cách chính trị Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân là lý tưởng, lẽ sống của Người. Bởi vì, Người cho rằng “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[2].  Vì vậy, quan niệm về độc lập dân tộc của Hồ Chí Minh có sự phát triển mới về chất so với quan niệm của các sĩ phu yêu nước cùng thời. Thực tế cho thấy, lý tưởng và quan niệm đó đã đưa Người đến với chân lý chính trị của thời đại đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, là con đường cách mạng vô sản và chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, lý tưởng và quan niệm đó bảo đảm cho Người không bị cám dỗ bởi lợi ích cá nhân, tiền tài và địa vị. Người đã khẳng định: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, uỷ thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng - cũng vì mục đích đó”[3]. Hơn nữa, lý tưởng đó còn là cơ sở để Người suốt đời thực hiện một triết lý hành động, “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”[4].
Hai là, luôn tìm mọi cách để nhân dân trở thành chủ thể của quyền lực chính trị và thực sự làm chủ quyền lực chính trị. Với nhân cách chính trị thân dân, gần dân, tất cả vì tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân - Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn lớn nhất là, “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[5]. Vì vậy, trên hành trình bôn ba tìm đường cứu nước, mặc dù được tiếp xúc với nhiều tư tưởng chính trị, nhiều con đường cứu nước và chế độ xã hội khác nhau, nhưng Người chỉ tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin, đi theo con đường cách mạng vô sản và lựa chọn mô hình xã hội chủ nghĩa. Bởi lẽ, Người đã so sánh và nhận rõ: muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản và chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới bảo đảm cho nhân dân trở thành chủ thể của quyền lực chính trị. Do vậy, trong ứng xử chính trị của Hồ Chí Minh, việc xóa bỏ chế độ thuộc địa, nửa phong kiến và thiết lập chế độ Dân chủ nhân dân để tiến dần lên chủ nghĩa xã hội đều là tất yếu như nhau. Theo đó, trong tư tưởng và hành động chính trị của Người, cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc phải là điều kiện, tiền đề và luôn gắn liền với mục tiêu chủ nghĩa xã hội.
Thực tế cho thấy, sau khi Cách mạng Tháng tám thành công, Hồ Chí Minh đã tiến hành ngay các hoạt động nhằm hiện thực hóa vị trí, vai trò của nhân dân đối với quyền lực chính trị như: tổ chức bầu Quốc hội; soạn thảo và ban hành Hiến pháp và các đạo luật… Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ mới, Người nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu”[6]. Theo Hồ Chí Minh, nhân dân không chỉ là chủ, mà còn có trách nhiệm làm chủ trong chính trị. Người chỉ rõ: “Nhân dân là chủ. Chính phủ là đày tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân. Vì vậy, nhân dân lại có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ, theo đúng kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ”[7]. Mặt khác, trong nhân cách chính trị Hồ Chí Minh, không phải chỉ Chính phủ là những người được nhân dân bầu lên mới là đầy tớ của nhân dân, mà cả đảng chính trị - những người không do nhân dân bầu lên cũng phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
Ba là, luôn tự mình tu dưỡng đạo đức cách mạng để cống hiến cho nhân dân ngày càng được nhiều hơn. Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng là một giá trị nổi bật trong nhân cách chính trị Hồ Chí Minh. Người đã chỉ rõ: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”[8]. Nhận rõ vai trò to lớn của đạo đức cách mạng đối với mục tiêu hiện thực hóa chế độ xã hội chủ nghĩa và đem lại quyền lợi chính trị cho nhân dân, Hồ Chí Minh đã kiên trì thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, “Dĩ công vi thượng”; luôn đặt lợi ích của Đảng của dân tộc lên trước lợi ích cá nhân, gia đình. Trong Thư gửi Họ Nguyễn Sinh (9/11/1950), Người viết: “Nghe tin anh Cả mất, lòng tôi rất buồn rầu. Vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc anh tạ thế tôi không thể lo liệu. Than ôi! Tôi chịu tội bất đệ trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước”[9].
Không chỉ tự mình tu dưỡng, rèn luyện mà còn luôn nhắc nhở, giáo dục cán bộ, đảng viên rằng: “Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là "tính Đảng"”[10]. Trọn đời hy sinh cho độc lập của dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân là nét đặc trưng của nhân cách chính trị Hồ Chí Minh. Trong Di chúc, Người đã viết: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”[11]. Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người có nhiều năm sống và làm việc bên cạnh Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Hồ Chủ tịch không có cái gì riêng; cái gì của dân là của Người. Quyền lợi tối cao của nước, lợi ích hàng ngày của dân, là sự lo lắng hàng ngày của Người. Gia đình của Người là đại gia đình Việt Nam"[12].
Như vậy, có thể thấy, nhân cách chính trị Hồ Chí Minh là những giá trị phổ quát nhất của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư tưởng và hành động về trách nhiệm của một cá nhân với cộng đồng, quốc gia dân tộc trong quá trình đấu tranh, giành, giữ, sử dụng và xây dựng một thể chế chính trị mà cốt lõi là một nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. Đây là yếu tố nền tảng để một nhân cách chính trị có được nhận thức đúng đắn, sự năng động, sáng tạo và một phong cách ứng xử chính trị đúng đắn với một thể chế chính trị cụ thể. Bên cạnh đó, nhân cách chính trị Hồ Chí Minh còn là sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động đề cao nhân dân; hết lòng, hết sức phụng sự nhân dân. Trong nhân cách chính trị Hồ Chí Minh, việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và tính nghiêm minh của pháp luật không phải là để trói buộc nhân dân vào những quy định phức tạp nhằm bảo vệ lợi ích của một bộ phận, mà là nhằm bảo đảm cho mỗi người dân không phân biệt giai cấp, tín ngưỡng được hưởng các quyền tối thiểu của mình và không ngừng phát huy sức mạnh của nhân dân cho sự nghiệp giải phóng triệt để con người. Thêm nữa, nhân cách chính trị Hồ Chí Minh còn là sự thống nhất biện chứng giữa tư tưởng và tấm gương đạo đức cách mạng, đó là: sự trung thành tuyệt đối với mục tiêu của con đường cách mạng vô sản là giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp và giải phóng con người; luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân để xem xét và giải quyết mọi vấn đề chính trị; luôn yêu thương, khoan dung, độ lượng, quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là những người lao động, những người khó khăn, thiệt thòi hơn những người khác; luôn tự mình thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; luôn đặt cách mạng Việt Nam là một bộ phận không tách rời của cách mạng thế giới, có trách nhiệm với các vấn đề chính trị quốc tế, tôn trọng sự khác nhau về thể chế chính trị, sẵn sàng mở rộng quan hệ với tất cả các quốc gia có chủ quyền trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và cùng có lợi.
Hiện nay sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế và tính chất của cuộc đấu tranh giai cấp, cạnh tranh dân tộc đang đặt ra cho mỗi nhân cách chính trị Việt Nam, trước hết là cán bộ đảng viên những yêu cầu ngày càng cao. Đòi hỏi mỗi người phải có nhận thức chính trị khoa học; ứng xử chính trị đúng đắn. Đặc biệt phải có đạo đức chính trị trong sáng, là người trực tiếp làm chính trị hay chỉ tham gia vào quá trình chính trị cũng đều phải vì lợi ích chung của cộng đồng, của quốc gia dân tộc và của nhân dân, tuyệt đối không vì lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm hay lợi ích cá nhân. Để đáp ứng yêu cầu ấy, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ những giá trị có tính chuẩn mực của nhân cách chính trị Hồ Chí Minh, đồng thời kế thừa, phát triển những giá trị đó lên tầm cao mới cho phù hợp với tình hình hiện tại. Học tập nhân cách chính trị Hồ Chí Minh để xây dựng mỗi nhân cách chính trị Việt Nam hiện nay chính là thực hiện lời di huấn trước lúc Người đi xa rằng: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”[13]. Đây là một nhiệm vụ quan trọng thuộc về công tác cán bộ của Đảng. Do vậy, nó phải được quán triệt và thực hiện một cách nghiêm túc, đồng bộ với mục tiêu, mục đích rõ ràng trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân nói chung, hệ thống các trường đảng nói riêng. Đặc biệt, trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đã được quy hoạch làm nguồn lãnh đạo, quản lý kế tiếp của Đảng và Nhà nước. Mặt khác, trước yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải tự mình tu dưỡng, rèn luyện để trở thành một nhân cách chính trị đáp ứng đòi hỏi của mục tiêu con đường cách mạng của Đảng và dân tộc, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng - yếu tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần quán triệt sâu sắc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; không ngừng nâng cao tri thức về khoa học chính trị để giữ vững lập trường cách mạng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam./.




[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 2, tr.140.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.64.
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.272.
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.51
[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.187.
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.7
[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập9, tr.90.
[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập5, tr.292-293.
[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập6, tr.463.
[10] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập5, tr.290-291.
[11] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập15, tr.615.
[12] Trần Văn Giàu, Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.443.
13 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập15, tr.612.


Thứ Ba, 16 tháng 5, 2017

BỐI CẢNH RA ĐỜI, GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA TÁC PHẨM “SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC”

1. Bối cảnh ra đời
“Sửa đổi lối làm việc” là một trong những tác phẩm lớn và rất quan trọng đối với Đảng và cách mạng Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn thành vào tháng 10 năm 1947, với bút danh X.Y.Z. Tác phẩm được Nhà xuất bản Sự thật xuất bản lần đầu vào năm 1948 và xuất bản lần thứ bẩy vào năm 1959. Hiện nay, trong Hồ Chí Minh toàn tập, bộ 15 tập, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản năm 2011, tác phẩm được in ở tập 5, từ trang 269 đến trang 346. Tác phẩm là sản phẩm của quá trình Hồ Chí Minh tư duy về Đảng và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trước yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng và thực tiễn cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp.
Thực tế cho thấy, với phẩm chất nhân văn cao cả và mong muốn một nền độc lập, tự do thực sự cho dân tộc Việt Nam, sau nhiều trải nghiệm, tìm tòi, so sánh, nhất là sau khi được tiếp cận với Luận cương của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Hồ Chí Minh đã nhận thức rất rõ về vai trò của Đảng Cộng sản đối với sự nghiệp cách mạng. Theo Người, vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau. Do đó, trong mọi thời kỳ lịch sử kể từ khi loài người có phân hóa giai cấp, vấn đề dân tộc đều phải được giải quyết theo lập trường của một giai cấp nhất định, với điều kiện đó là giai cấp tiên tiến nhất của thời đại. Vì vậy, với thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi giai cấp công nhân đã ra đời, giai cấp địa chủ, phong đã bất lực, các giai cấp, tầng lớp khác ra đời sau giai cấp công nhân và còn nhỏ bé, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[1]. Tức là vấn đề độc lập dân tộc ở Việt Nam muốn giải quyết được phải đứng trên lập trường của giai cấp công nhân và phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo.
Nhất quán với quan điểm đó, Hồ Chí Minh không chỉ tiến hành nhiều hoạt động lý luận và thực tiễn để thành lập ở Việt Nam một đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, mà Người còn rất quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng, đặc biệt trong điều kiện Đảng ta đã trở thành đảng cầm quyền. Bởi lẽ, theo Người, giành độc lập dân tộc chỉ là bước đầu trên con đường đi tới tự do, ấm no, hạnh phúc và việc thắng thực dân, đế quốc đã là muôn vàn gian khổ hy sinh, nhưng thắng nghèo làn, lạc hậu còn khó khăn hơn nhiều. Người chỉ rõ: “Cách mạng là cuộc đấu tranh rất gian khổ. Lực lượng kẻ địch rất mạnh. Muốn thắng lợi thì quần chúng phải tổ chức rất chặt chẽ; chí khí phải kiên quyết. Vì vậy, phải có Đảng để tổ chức và giáo dục nhân dân thành một đội quân thật mạnh, để đánh đổ kẻ địch, tranh lấy chính quyền. Cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có Đảng lãnh đạo, vì: - Dù nhân dân đã nắm chính quyền, nhưng giai cấp đấu tranh trong nước và mưu mô đế quốc xâm lược vẫn còn. - Vì phải xây dựng kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xã hội cho nên Đảng vẫn phải tổ chức, lãnh đạo, giáo dục quần chúng, để đưa nhân dân lao động đến thắng lợi hoàn toàn”[2].
Vì vậy, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành đảng cầm quyền, nhưng ngay sau đó toàn dân tộc lại phải đương đầu với thù trong, giặc ngoài và âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa của đế quốc Pháp. Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất kiên nhẫn với nhiều giải pháp hòa bình để tránh một cuộc xung đột giữa nhân dân Việt Nam với quân đội Pháp, nhưng không được đế quốc Pháp hưởng ứng. Do đó, sau khoảng 16 tháng (từ tháng 9 - 1945 đến cuối năm 1946), dưới sự chèo lái của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, con thuyền cách mạng Việt Nam đã vượt qua những sóng gió hiể nguy, sẵn sàng đương đầu với mọi thế lực hung bạo nhất để bảo vệ nền độc lập mới giành được. Mặt khác, chẳng những đế quốc Pháp không hưởng ứng những giải pháp tránh xung đột vũ trang mà Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra, mà còn cố tình gây chiến. Sau bức tối hậu thư lần thứ ba mà quân Pháp gửi đến vào sáng sớm ngày 19 - 12 - 1946, đòi tự vệ Hà Nội phải hạ vũ khí, vào lúc 20 giờ 3 phút ngày 19 - 12 - 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Như vậy, tính đến tháng 10 năm 1947, Đảng ta mới chính thức cầm quyền được hơn hai năm và cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đã bắt đầu được gần một năm. Tuy nhiên, đó cũng là quá trình mà thuộc tính tha hóa của quyền lực và những khó khăn, gian khổ của cuộc kháng chiến bắt đầu tiến công vào đội ngũ cán bộ, đảng viên cả từ bên trong và bên ngoài. Những kẻ thù đó đã làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng có những biểu hiện như: cục bộ, bè phái, cửa quyền, hách dịch, quan liêu, xa dân… Những biểu hiện đó không chỉ làm giảm sút hiệu quả công tác của cán bộ, đảng viên, mà còn làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, có nguy cơ ảnh hưởng không tốt đến sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Nhận rõ điều đó, ngay từ đầu năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ để nhắc nhở cán bộ, đảng viên sửa chữa những khuyết điểm ấy. Người cho rằng, trong lúc dân tộc đang ở ngã tư đường, chết hay sống, mất hay còn, mỗi đảng viên và toàn Đảng phải đem tất cả tinh thần và lực lượng ra để thống nhất ý chí và hành động của toàn dân, nhằm vào một mục đích: đánh đuổi thực dân Pháp để giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Mặt khác, theo Người, trong lúc này tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên rất có quan hệ đến toàn quốc. Nếu một người sơ suất, một việc sơ suất là có thể hỏng việc to; sai một ly đi một dặm. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu, mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm đó.
Mặc dù vậy, do nhiều lý do khách quan và chủ quan mà như Hồ Chí Minh đã viết trong “Sửa đổi lối làm việc” rằng, “Cán bộ và đảng viên ta, vì bận việc hành chính hoặc quân sự, mà xao nhãng việc học tập… hoặc chỉ nghiên cứu qua loa, hoặc nhận thấy khuyết điểm rồi nhưng không cố gắng sửa chữa. Đó là vì nghiên cứu một cách không thiết thực, không có tổ chức”[3]. Nhận rõ sự cần kíp của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cho nên trong điều kiện chiến tranh ở chiến khu Việt Bắc, bất chấp chiến dịch “Cánh đồng hoang” của quân Pháp muốn bao vây và tiêu diệt đầu não kháng chiến của quân và dân ta ngay trong đợt tấn công đầu tiên vào mùa thu năm 1947, Hồ Chí Minh vẫn giành thời gian để hoàn thành tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”.
2. Giá trị lý luận
Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa thể hiện sự kế thừa sâu sắc lý luận Mác - Lênin về xây dựng Đảng, vừa bổ sung, phát triển làm phong phú thêm nhiều vấn đề quan trọng. Với các nội dung được đề cập, “Sửa đổi lối làm việc” là một tác phẩm có giá trị lý luận vô cùng to lớn.
Thứ nhất, đây là tác phẩm lý luận hết sức quan trọng về Đảng và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó hội tụ nhiều quan điểm lớn, trở thành nền tảng tư tưởng để Đảng ta xác định các chủ trương, biện pháp cụ thể cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng qua các thời kỳ cách mạng. Biểu hiện cụ thể như:
Tư tưởng về những căn bệnh mà cán bộ, đảng viên của một đảng cầm quyền thường mắc phải. Người chỉ rõ, những căn bệnh đó là: chủ quan, hẹp hòi, ba hoa, hội họp nhiều mà kém chất lượng và bệnh nể nang;
Tư tưởng về tự đổi mới, tự chỉnh đốn đảng. Theo Người, nếu toàn Đảng và mỗi đảng viên “mỗi ngày đều tự kiểm điểm mình và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công”[4];
Tư tưởng về lý luận, vai trò của lý luận và sự cần thiết phải học lý luận. Theo Hồ Chí Minh, lý luận là sản phẩm của thao tác tư duy, là những kết luận được rút ra từ sự so sánh, đối chiếu những hoạt động thực tiễn. Lý luận có vai trò bảo đảm tính đúng đắn cho các hoạt động thực tiễn của con người, không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào thực tế và phải kiên quyết khắc phục bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông;
Tư tưởng về trí thức và tư cách của một người trí thức chân chính. Theo Hồ Chí Minh, trí thức là hiểu biết, người trí thức là người có hiểu biết và phát hiện ra những hiểu biết mới về tự nhiên, về xã hội, và những hiểu biết đó phải được áp dụng vào thực tế. Vì vậy, người trí thức chân chính là người tích cực hoạt động thực tiễn, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của Đảng của dân tộc;
Tư tưởng về cán bộ và công tác cán bộ. Người chỉ rõ: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc”[5]. Theo Người, cán bộ có vai trò rất quan trọng, “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng và công tác cán bộ là một mặt công tác hết sức quan trọng của Đảng;
Tư tưởng về phương pháp, cách thức lãnh đạo của Đảng. Theo Hồ Chí Minh, cách lãnh đạo đúng phải bảo đảm ba yêu tố, đó là: “Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng…Phải tổ chức sự thi hành cho đúng…Phải tổ chức sự kiểm soát”[6];
Thứ hai, “Sửa đổi lối làm việc” là những chuẩn mực về tư tưởng, đạo đức, phong cách của người cán bộ, đảng viên. Trở thành cẩm nang để mỗi cán bộ, đảng viên tự sửa chữa và từng bước hoàn thiện nhân cách của mình.
Hồ Chí Minh chỉ rõ, đạo đức cách mạng là đạo đức mới, đạo đức mang bản chất của giai cấp công nhân, hướng tới mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Những chuẩn mực chung nhất của đạo đức cách mạng là: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Và, đạo đức cách mạng có vai trò to lớn đối với người cách mạng, “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[7]. Người còn chỉ ra hậu quả của việc đảng viên kém tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Theo Người, nếu kém rèn luyện đạo đức sẽ mắc vào chủ nghĩa cá nhân, mà chủ nghĩa cá nhân thì như một thứ vi trùng độc, do nó mà sinh ra hàng trăm thứ bệnh rất nguy hiệm như: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương và óc lãnh tụ. Ngoài ra, chủ nghĩa cá nhân còn làm cho cán bộ, đảng viên mắc các bệnh khác như bệnh hữu danh vô thực, kéo bè kéo cánh, không nhìn xa trông rộng và bệnh tự cao, tự đại.
Thứ ba, tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” không chỉ giúp cho cán bộ, đảng viên và mỗi người cách mạng có quan điểm, lập trường đúng đắn khi xem xét những hạn chế, khuyết điểm của các cá nhân, tổ chức đảng, mà còn góp phần giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng.
Theo Hồ Chí Minh: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra”. Vì vậy, việc Đảng còn có những người, những việc chưa tốt, những hạn chế, khuyết điểm là chuyện bình thường. Tuy nhiên, để có cách ứng xử đúng với các khuyết điểm đó cần phải đứng vững trên lập trường của người cộng sản chân chính. Người chỉ rõ, trước những hạn chế, khuyết điểm của Đảng, sẽ có năm thái độ khác nhau. Trong đó, những phần tử xấu, phản động thì lợi dụng, tô vẽ thêm để phá hoại Đảng; những kẻ đầu cơ thì lợi dụng những khuyết điểm đó để đạt mục đích tư lợi cá nhân; những cán bộ, đảng viên ươn hèn, yếu ớt thì bỏ mặc thế nào cũng được; những người máy móc quá thì đòi đuổi ngay những người mắc khuyết điểm ra khỏi Đảng. Bên cạnh đó, chỉ có một thái độ đúng đắn nhất đó là: phân tích rõ đúng sai; ra sức học tập và nâng cao những kiểu mẫu tốt; ra sức đấu tranh sửa chữa khuyết điểm; khéo dùng cách phê bình và tự phê bình để sửa chữa những hạn chế, sai lầm; đẩy mạnh đấu tranh nội bộ để tăng cường đoàn kết để nâng cao kỷ luật và uy tín của Đảng.
3. Giá trị thực tiễn
Những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh được nêu trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đã có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất Tổ quốc của Đảng và nhân dân ta. Đó không chỉ là những cảnh báo về các căn bệnh một đảng cầm quyền có nguy cơ mắc phải, mà còn chỉ rõ những dấu hiệu, triệu chứng của những căn bệnh đó và hậu quả của nó nếu không được kịp thời chữa trị, khắc phục. Đặc biệt, với những biện pháp, cách thức cụ thể được Người chỉ ra trong tác phẩm đã tạo nên một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Thực tế cho thấy, ngay sau khi tác phẩm ra đời, một loạt các cuộc chỉnh huấn ở các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị được tiến hành, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của mỗi cán bộ, đảng viên.
Sự chỉ dẫn cụ thể mà ân cần trên tinh thần khoan dung, độ lượng và hết sức biện chứng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên dám nhìn thẳng vào những hạn chế, khuyết điểm, yếu kém của mình, dám nhận khuyết điểm, mạnh dạn tự phê bình và phê bình, tích cực, tự giác sửa chữa khuyết điểm. Với thái độ phê bình thấu tình, đạt lý nhưng rất nghiêm khắc và kiên quyết được nêu ra trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” cùng với Lời kêu gọi thi đua ái quốc được Người viết vào ngày 11/6/1948 đã tạo nên phong trào thi đua sôi nổi trong mọi hoạt động cách mạng, góp phần giành nhiều thắng lợi mới trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam được nêu ra trong tác phẩm “Đường cách mệnh” và tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” thể hiện sự xuyên suốt, nhất quán trong tư duy của Người về một đảng cách mạng chân chính, bảo đảm cho Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự là một đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên của Đảng đã tự giác học tập, rèn luyện và nêu tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng; tỏ rõ lòng trung thành với Đảng với Tổ quốc và nhân dân; vượt qua mọi gian khổ, hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ; thực sự tiền phong, gương mẫu về lý luận và thực tiễn, bảo đảm cho Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh, tiêu biểu cho lương tâm, trí tuệ của toàn dân tộc. Thực hiện nghiêm túc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng đã kịp thời sửa chữa khuyết điểm, củng cố lực lượng, siết chặt đội ngũ, chấn chỉnh kỷ luật, giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng, nâng cao năng lực và phẩm chất đạo đức; tiếp tục giữ vững vai trò lãnh đạo quần chúng nhân dân, làm tốt nhiệm vụ cầm quyền, động viên toàn dân, toàn quân tích cực tham gia công tác, chiến đấu để đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đến thắng lợi cuối cùng.
“Sửa đổi lối làm việc” là tác phẩm có sự hội tụ cả tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người. Ra đời đã 70 năm nhưng giá trị thực tiễn của tác phẩm chẳng những không hề suy giảm mà tính thời sự và giá trị chỉ đạo hiện thực còn tiếp tục tăng lên. Bởi lẽ, sự tha hóa là thuộc tính của quyền lực và luôn là nguy cơ của mọi đảng cầm quyền. Mặt khác, trong điều kiện nước ta đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn có sự đan xen giữa cái cũ với cái mới, cái tích cực với cái tiêu cực. Đặc biệt, trong bối cảnh bùng nổ của công nghệ thông tin, truyền thông, sự cạnh tranh giữa các giá trị chính trị ngày càng gay gắt cộng với sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình” với thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ cán bộ, đảng viên như hiện nay thì vấn đề chỉnh đốn đảng càng trở lên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Thấm nhuần và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong “Sửa đổi lối làm việc” Đảng ta đã có nhiều cuộc vận động lớn về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đặc biệt, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đến nay, Đảng ta luôn đặt lên hàng đầu công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng, tập trung nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, bảo đảm cho Đảng đáp ứng tốt nhất đòi hỏi của giai đoạn cách mạng mới, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo duy nhất, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên quán triệt sâu sắc lời dạy của Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” chính là học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh./.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 12, tr.30.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 8, tr.274.
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.269.
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.273.
[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.309.
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.325.
[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.292.
NHÂN CÁCH CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH - CHUẨN MỰC
CỦA NHÂN CÁCH CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HIỆN NAY
Mỗi nhân cách chính trị đều vừa là khách thể, vừa là chủ thể của một nền chính trị, có tác động rất lớn đến sự tồn vong của một chế độ chính trị nhất định. Trong tình hình hiện nay, để giữ vững và nâng cao sức mạnh của thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn thì cần phải có những nhân cách chính trị như thế nào? Đây là câu hỏi được đặt ra không chỉ cho sự nghiệp xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII), mà còn cho công cuộc đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Thực tế lịch sử đã cho thấy, nhân cách chính trị Hồ Chí Minh có ý nghĩa to lớn đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là chuẩn mực để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta học tập, làm theo.
Nhân cách chính trị là bộ phận quan trọng cấu thành nhân cách của một cá nhân trong xã hội có giai cấp, được hình thành, phát triển, hoàn thiện trong quá trình cá nhân đó ứng xử với môi trường chính trị và với các nhân cách chính trị khác. Nó bao gồm những yếu tố tạo thành nét đặc trưng của văn hóa chính trị ở mỗi con người trong một môi trường chính trị nhất định. Có thể khái quát rằng, nhân cách chính trị là cách mà con người sống và thể hiện mình trong một môi trường chính trị cụ thể. Theo đó, môi trường và thể chế chính trị sẽ chi phối, tác động và quy định nhân cách chính trị của cá nhân. Nói cách khác, nhân cách chính trị luôn mang tính xã hội sâu sắc. Tuy nhiên, với cùng một môi trường và thể chế chính trị nhất định nhưng luôn có sự khác nhau giữa các nhân cách chính trị. Trong đó, có những nhân cách tiêu biểu, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của chính trị theo đúng quy luật, trở thành chuẩn mực chung của một cộng đồng, một quốc gia, dân tộc. Bên cạnh đó lại có những nhân cách chính trị không phù hợp, trở thành lực cản, thậm chí đi ngược lại mục tiêu xây dựng một thể chế chính trị tiến bộ, dân chủ, nhân văn và nhân đạo. Bởi lẽ, để hình thành nhân cách chính trị của một cá nhân thì năng lực chủ quan giữ vai trò quyết định nhất, mà yếu tố chủ quan của mỗi người lại không giống nhau.
Lịch sử chính trị Việt Nam cho thấy, môi trường và thể chế chính trị thuộc địa, nửa phong kiến giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã tạo ra những nhân cách chính trị phục tùng sự thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai. Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản lần đầu vào năm 1925, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Người Aixơlen, Ai Cập, Triều Tiên, Ấn Độ, tất cả những người chiến bại hôm qua và nô lệ hôm nay đó, đương đấu tranh dũng cảm cho nền độc lập ngày mai của họ. Riêng người An Nam, thì vẫn cứ thế: sẵn sàng làm nô lệ”[1]. Tuy nhiên, bên cạnh đó rất nhiều những nhân cách chính trị Việt Nam không cam chịu thân phận nô lệ và thể chế chính trị áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, đã tạo nên phong trào đấu tranh chống Pháp rộng khắp trên cả nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hoàng Hoa Thám... Mặc dù vậy, cho đến khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các cuộc đấu tranh đó đều chưa giành thắng lợi.
Thực tế đã chứng minh, trong số những nhân cách chính trị tiêu biểu của dân tộc với tư cách là lãnh tụ của các phong trào đấu tranh chống Pháp để giải phóng dân tộc, chỉ có nhân cách chính trị Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trở thành chuẩn mực của nhân cách chính trị Việt Nam hiện đại. Nhân cách chính trị Hồ Chí Minh là tổng hòa các giá trị được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động cách mạng của Người; phản ánh mục tiêu, lý tưởng, cách thức giải quyết mối quan hệ giữa trách nhiệm cá nhân với vận mệnh của quốc gia, dân tộc, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa con người chính trị với thể chế chính trị, giữa người lãnh đạo, quản lý với đối tượng lãnh đạo, quản lý; có tính ổn định, bền vững, tính cách mạng và nhân văn triệt để. Nói tóm lại, đó là một nhân cách chính trị thân dân, gần dân, tất cả vì dân.
Với tính cách là tập hợp các giá trị về mục tiêu, lý tưởng, lập trường, bản lĩnh và đạo đức chính trị - nhân cách chính trị Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng cấu thành văn hóa chính trị của Người. Những giá trị đó có vai trò là nền tảng cho sự hình thành, phát sinh, phát triển và hoàn thiện các nhóm giá trị khác trong văn hóa chính trị như, các giá trị tư tưởng và giá trị hành vi. Trên thực tế, nhân cách chính trị Hồ Chí Minh đã là cơ sở để thức tỉnh tinh thần và ý thức chính trị của các tầng lớp nhân dân, phát huy cao độ sức mạnh của quần chúng trong đấu tranh cách mạng; tác động trực tiếp đến việc tạo ra các thế hệ cán bộ, đảng viên hết lòng vì dân, vì nước, vì thắng lợi của mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới; cảm hóa được những người lầm lỗi và cả những binh lính đối phương để tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo đảm cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Có thể khái quát những giá trị mang tính chuẩn mực của nhân cách chính trị Hồ Chí Minh như sau:
Một là, luôn đề cao trách nhiệm cá nhân trước vận mệnh của quốc gia, dân tộc, chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh vì độc lập của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Thực tế cho thấy, dưới sự thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, Tổ quốc ta chìm trong đêm dài nô lệ, nhân dân đói khổ, lầm than, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra nhưng không giành thắng lợi. Trước thực trạng đó, Nguyễn Tất Thành đã sớm hình thành chí hướng và nung nấu tư tưởng tìm một con đường cứu nước mới để giải phóng dân tộc, giúp đồng bào mình thoát khỏi cảnh thống khổ của người dân mất nước. Ngay từ khi còn là một thiếu niên, Người đã nghĩ đến trách nhiệm của cá nhân đối với Tổ quốc và quyết tâm đấu tranh cho độc lập của dân tộc; tự do, ấm no hạnh phúc của nhân dân. Trước nhiều câu hỏi lớn liên quan đến vận mệnh của quốc gia, dân tộc chưa có lời giải, Người đã xác định, phải đi ra nước ngoài xem người ta làm như thế nào rồi trở về giúp đồng bào mình.
Theo Hồ Chí Minh, xã hội càng phát triển đòi hỏi tính cộng đồng và trách nhiệm cá nhân của con người ngày càng cao. Đặc biệt, trong đấu tranh giai cấp càng cần có sự đoàn kết giữa những cá nhân cùng giai cấp và giữa các giai cấp có chung lợi ích. Mặt khác, Người cho rằng, “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”. Vì vậy, dân là gốc của nước, có dân mới có nước. Tuy nhiên, nước mất thì nhà tan, nước mất độc lập thì dân không thể có tự do. Vì vậy, mỗi cá nhân phải có trách nhiệm với cộng đồng, với sự hưng vong của quốc gia, dân tộc. Ý thức rõ điều đó, Hồ Chí Minh đã dấn thân làm cách mạng và chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh, đấu tranh đến hơi thở cuối cùng vì nền độc lập và sự phát triển bền vững của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
Trong nhân cách chính trị Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân là lý tưởng, lẽ sống của Người. Bởi vì, Người cho rằng “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[2].  Vì vậy, quan niệm về độc lập dân tộc của Hồ Chí Minh có sự phát triển mới về chất so với quan niệm của các sĩ phu yêu nước cùng thời. Thực tế cho thấy, lý tưởng và quan niệm đó đã đưa Người đến với chân lý chính trị của thời đại đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, là con đường cách mạng vô sản và chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, lý tưởng và quan niệm đó bảo đảm cho Người không bị cám dỗ bởi lợi ích cá nhân, tiền tài và địa vị. Người đã khẳng định: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, uỷ thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng - cũng vì mục đích đó”[3]. Hơn nữa, lý tưởng đó còn là cơ sở để Người suốt đời thực hiện một triết lý hành động, “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”[4].
Hai là, luôn tìm mọi cách để nhân dân trở thành chủ thể của quyền lực chính trị và thực sự làm chủ quyền lực chính trị. Với nhân cách chính trị thân dân, gần dân, tất cả vì tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân - Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn lớn nhất là, “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[5]. Vì vậy, trên hành trình bôn ba tìm đường cứu nước, mặc dù được tiếp xúc với nhiều tư tưởng chính trị, nhiều con đường cứu nước và chế độ xã hội khác nhau, nhưng Người chỉ tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin, đi theo con đường cách mạng vô sản và lựa chọn mô hình xã hội chủ nghĩa. Bởi lẽ, Người đã so sánh và nhận rõ: muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản và chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới bảo đảm cho nhân dân trở thành chủ thể của quyền lực chính trị. Do vậy, trong ứng xử chính trị của Hồ Chí Minh, việc xóa bỏ chế độ thuộc địa, nửa phong kiến và thiết lập chế độ Dân chủ nhân dân để tiến dần lên chủ nghĩa xã hội đều là tất yếu như nhau. Theo đó, trong tư tưởng và hành động chính trị của Người, cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc phải là điều kiện, tiền đề và luôn gắn liền với mục tiêu chủ nghĩa xã hội.
Thực tế cho thấy, sau khi Cách mạng Tháng tám thành công, Hồ Chí Minh đã tiến hành ngay các hoạt động nhằm hiện thực hóa vị trí, vai trò của nhân dân đối với quyền lực chính trị như: tổ chức bầu Quốc hội; soạn thảo và ban hành Hiến pháp và các đạo luật… Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ mới, Người nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu”[6]. Theo Hồ Chí Minh, nhân dân không chỉ là chủ, mà còn có trách nhiệm làm chủ trong chính trị. Người chỉ rõ: “Nhân dân là chủ. Chính phủ là đày tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân. Vì vậy, nhân dân lại có nhiệm vụ giúp đỡ Chính phủ, theo đúng kỷ luật của Chính phủ và làm đúng chính sách của Chính phủ”[7]. Mặt khác, trong nhân cách chính trị Hồ Chí Minh, không phải chỉ Chính phủ là những người được nhân dân bầu lên mới là đầy tớ của nhân dân, mà cả đảng chính trị - những người không do nhân dân bầu lên cũng phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
Ba là, luôn tự mình tu dưỡng đạo đức cách mạng để cống hiến cho nhân dân ngày càng được nhiều hơn. Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng là một giá trị nổi bật trong nhân cách chính trị Hồ Chí Minh. Người đã chỉ rõ: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”[8]. Nhận rõ vai trò to lớn của đạo đức cách mạng đối với mục tiêu hiện thực hóa chế độ xã hội chủ nghĩa và đem lại quyền lợi chính trị cho nhân dân, Hồ Chí Minh đã kiên trì thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, “Dĩ công vi thượng”; luôn đặt lợi ích của Đảng của dân tộc lên trước lợi ích cá nhân, gia đình. Trong Thư gửi Họ Nguyễn Sinh (9/11/1950), Người viết: “Nghe tin anh Cả mất, lòng tôi rất buồn rầu. Vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc anh tạ thế tôi không thể lo liệu. Than ôi! Tôi chịu tội bất đệ trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước”[9].
Không chỉ tự mình tu dưỡng, rèn luyện mà còn luôn nhắc nhở, giáo dục cán bộ, đảng viên rằng: “Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là "tính Đảng"”[10]. Trọn đời hy sinh cho độc lập của dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân là nét đặc trưng của nhân cách chính trị Hồ Chí Minh. Trong Di chúc, Người đã viết: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”[11]. Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người có nhiều năm sống và làm việc bên cạnh Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Hồ Chủ tịch không có cái gì riêng; cái gì của dân là của Người. Quyền lợi tối cao của nước, lợi ích hàng ngày của dân, là sự lo lắng hàng ngày của Người. Gia đình của Người là đại gia đình Việt Nam"[12].
Như vậy, có thể thấy, nhân cách chính trị Hồ Chí Minh là những giá trị phổ quát nhất của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư tưởng và hành động về trách nhiệm của một cá nhân với cộng đồng, quốc gia dân tộc trong quá trình đấu tranh, giành, giữ, sử dụng và xây dựng một thể chế chính trị mà cốt lõi là một nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. Đây là yếu tố nền tảng để một nhân cách chính trị có được nhận thức đúng đắn, sự năng động, sáng tạo và một phong cách ứng xử chính trị đúng đắn với một thể chế chính trị cụ thể. Bên cạnh đó, nhân cách chính trị Hồ Chí Minh còn là sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động đề cao nhân dân; hết lòng, hết sức phụng sự nhân dân. Trong nhân cách chính trị Hồ Chí Minh, việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và tính nghiêm minh của pháp luật không phải là để trói buộc nhân dân vào những quy định phức tạp nhằm bảo vệ lợi ích của một bộ phận, mà là nhằm bảo đảm cho mỗi người dân không phân biệt giai cấp, tín ngưỡng được hưởng các quyền tối thiểu của mình và không ngừng phát huy sức mạnh của nhân dân cho sự nghiệp giải phóng triệt để con người. Thêm nữa, nhân cách chính trị Hồ Chí Minh còn là sự thống nhất biện chứng giữa tư tưởng và tấm gương đạo đức cách mạng, đó là: sự trung thành tuyệt đối với mục tiêu của con đường cách mạng vô sản là giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp và giải phóng con người; luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân để xem xét và giải quyết mọi vấn đề chính trị; luôn yêu thương, khoan dung, độ lượng, quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là những người lao động, những người khó khăn, thiệt thòi hơn những người khác; luôn tự mình thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; luôn đặt cách mạng Việt Nam là một bộ phận không tách rời của cách mạng thế giới, có trách nhiệm với các vấn đề chính trị quốc tế, tôn trọng sự khác nhau về thể chế chính trị, sẵn sàng mở rộng quan hệ với tất cả các quốc gia có chủ quyền trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và cùng có lợi.
Hiện nay sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế và tính chất của cuộc đấu tranh giai cấp, cạnh tranh dân tộc đang đặt ra cho mỗi nhân cách chính trị Việt Nam, trước hết là cán bộ đảng viên những yêu cầu ngày càng cao. Đòi hỏi mỗi người phải có nhận thức chính trị khoa học; ứng xử chính trị đúng đắn. Đặc biệt phải có đạo đức chính trị trong sáng, là người trực tiếp làm chính trị hay chỉ tham gia vào quá trình chính trị cũng đều phải vì lợi ích chung của cộng đồng, của quốc gia dân tộc và của nhân dân, tuyệt đối không vì lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm hay lợi ích cá nhân. Để đáp ứng yêu cầu ấy, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ những giá trị có tính chuẩn mực của nhân cách chính trị Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, học tập, làm theo để nhân cách chính trị của Người tiếp tục được tỏa sáng trong điều kiện mới, góp phần giữ vững và phát huy tính ưu việt của thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang tập trung xây dựng.
Xây dựng nhân cách chính trị Hồ Chí Minh cho mỗi nhân cách chính trị Việt Nam hiện nay chính là thực hiện lời di huấn trước lúc Người đi xa rằng: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”[13]. Đây là một nhiệm vụ quan trọng thuộc về công tác cán bộ của Đảng. Do vậy, nhiệm vụ này phải được quán triệt và thực hiện một cách nghiêm túc, đồng bộ với mục tiêu, mục đích rõ ràng trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân nói chung, hệ thống các trường đảng nói riêng. Đặc biệt, trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đã được quy hoạch làm nguồn lãnh đạo, quản lý kế tiếp của Đảng và Nhà nước. Mặt khác, trước yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải tự mình tu dưỡng, rèn luyện để trở thành một nhân cách chính trị đáp ứng đòi hỏi của mục tiêu con đường cách mạng vô sản, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, tạo lên yếu tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần quán triệt sâu sắc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; không ngừng nâng cao tri thức về khoa học chính trị để có thể nhận rõ phải trái, giữ vững lập trường cách mạng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam./.




[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 2, tr.140.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.64.
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.272.
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.51
[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.187.
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.7
[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập9, tr.90.
[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập5, tr.292-293.
[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập6, tr.463.
[10] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập5, tr.290-291.
[11] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập15, tr.615.
[12] Trần Văn Giàu, Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.443.
13 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, tập15, tr.612.