HỒ CHÍ MINH - NHÀ VĂN HÓA KIỆT XUẤT

Thứ Ba, 16 tháng 5, 2017

BỐI CẢNH RA ĐỜI, GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA TÁC PHẨM “SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC”

1. Bối cảnh ra đời
“Sửa đổi lối làm việc” là một trong những tác phẩm lớn và rất quan trọng đối với Đảng và cách mạng Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn thành vào tháng 10 năm 1947, với bút danh X.Y.Z. Tác phẩm được Nhà xuất bản Sự thật xuất bản lần đầu vào năm 1948 và xuất bản lần thứ bẩy vào năm 1959. Hiện nay, trong Hồ Chí Minh toàn tập, bộ 15 tập, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản năm 2011, tác phẩm được in ở tập 5, từ trang 269 đến trang 346. Tác phẩm là sản phẩm của quá trình Hồ Chí Minh tư duy về Đảng và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trước yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng và thực tiễn cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp.
Thực tế cho thấy, với phẩm chất nhân văn cao cả và mong muốn một nền độc lập, tự do thực sự cho dân tộc Việt Nam, sau nhiều trải nghiệm, tìm tòi, so sánh, nhất là sau khi được tiếp cận với Luận cương của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Hồ Chí Minh đã nhận thức rất rõ về vai trò của Đảng Cộng sản đối với sự nghiệp cách mạng. Theo Người, vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau. Do đó, trong mọi thời kỳ lịch sử kể từ khi loài người có phân hóa giai cấp, vấn đề dân tộc đều phải được giải quyết theo lập trường của một giai cấp nhất định, với điều kiện đó là giai cấp tiên tiến nhất của thời đại. Vì vậy, với thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi giai cấp công nhân đã ra đời, giai cấp địa chủ, phong đã bất lực, các giai cấp, tầng lớp khác ra đời sau giai cấp công nhân và còn nhỏ bé, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[1]. Tức là vấn đề độc lập dân tộc ở Việt Nam muốn giải quyết được phải đứng trên lập trường của giai cấp công nhân và phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo.
Nhất quán với quan điểm đó, Hồ Chí Minh không chỉ tiến hành nhiều hoạt động lý luận và thực tiễn để thành lập ở Việt Nam một đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, mà Người còn rất quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng, đặc biệt trong điều kiện Đảng ta đã trở thành đảng cầm quyền. Bởi lẽ, theo Người, giành độc lập dân tộc chỉ là bước đầu trên con đường đi tới tự do, ấm no, hạnh phúc và việc thắng thực dân, đế quốc đã là muôn vàn gian khổ hy sinh, nhưng thắng nghèo làn, lạc hậu còn khó khăn hơn nhiều. Người chỉ rõ: “Cách mạng là cuộc đấu tranh rất gian khổ. Lực lượng kẻ địch rất mạnh. Muốn thắng lợi thì quần chúng phải tổ chức rất chặt chẽ; chí khí phải kiên quyết. Vì vậy, phải có Đảng để tổ chức và giáo dục nhân dân thành một đội quân thật mạnh, để đánh đổ kẻ địch, tranh lấy chính quyền. Cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có Đảng lãnh đạo, vì: - Dù nhân dân đã nắm chính quyền, nhưng giai cấp đấu tranh trong nước và mưu mô đế quốc xâm lược vẫn còn. - Vì phải xây dựng kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xã hội cho nên Đảng vẫn phải tổ chức, lãnh đạo, giáo dục quần chúng, để đưa nhân dân lao động đến thắng lợi hoàn toàn”[2].
Vì vậy, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành đảng cầm quyền, nhưng ngay sau đó toàn dân tộc lại phải đương đầu với thù trong, giặc ngoài và âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa của đế quốc Pháp. Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất kiên nhẫn với nhiều giải pháp hòa bình để tránh một cuộc xung đột giữa nhân dân Việt Nam với quân đội Pháp, nhưng không được đế quốc Pháp hưởng ứng. Do đó, sau khoảng 16 tháng (từ tháng 9 - 1945 đến cuối năm 1946), dưới sự chèo lái của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, con thuyền cách mạng Việt Nam đã vượt qua những sóng gió hiể nguy, sẵn sàng đương đầu với mọi thế lực hung bạo nhất để bảo vệ nền độc lập mới giành được. Mặt khác, chẳng những đế quốc Pháp không hưởng ứng những giải pháp tránh xung đột vũ trang mà Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra, mà còn cố tình gây chiến. Sau bức tối hậu thư lần thứ ba mà quân Pháp gửi đến vào sáng sớm ngày 19 - 12 - 1946, đòi tự vệ Hà Nội phải hạ vũ khí, vào lúc 20 giờ 3 phút ngày 19 - 12 - 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Như vậy, tính đến tháng 10 năm 1947, Đảng ta mới chính thức cầm quyền được hơn hai năm và cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đã bắt đầu được gần một năm. Tuy nhiên, đó cũng là quá trình mà thuộc tính tha hóa của quyền lực và những khó khăn, gian khổ của cuộc kháng chiến bắt đầu tiến công vào đội ngũ cán bộ, đảng viên cả từ bên trong và bên ngoài. Những kẻ thù đó đã làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng có những biểu hiện như: cục bộ, bè phái, cửa quyền, hách dịch, quan liêu, xa dân… Những biểu hiện đó không chỉ làm giảm sút hiệu quả công tác của cán bộ, đảng viên, mà còn làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, có nguy cơ ảnh hưởng không tốt đến sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Nhận rõ điều đó, ngay từ đầu năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ để nhắc nhở cán bộ, đảng viên sửa chữa những khuyết điểm ấy. Người cho rằng, trong lúc dân tộc đang ở ngã tư đường, chết hay sống, mất hay còn, mỗi đảng viên và toàn Đảng phải đem tất cả tinh thần và lực lượng ra để thống nhất ý chí và hành động của toàn dân, nhằm vào một mục đích: đánh đuổi thực dân Pháp để giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Mặt khác, theo Người, trong lúc này tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên rất có quan hệ đến toàn quốc. Nếu một người sơ suất, một việc sơ suất là có thể hỏng việc to; sai một ly đi một dặm. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu, mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm đó.
Mặc dù vậy, do nhiều lý do khách quan và chủ quan mà như Hồ Chí Minh đã viết trong “Sửa đổi lối làm việc” rằng, “Cán bộ và đảng viên ta, vì bận việc hành chính hoặc quân sự, mà xao nhãng việc học tập… hoặc chỉ nghiên cứu qua loa, hoặc nhận thấy khuyết điểm rồi nhưng không cố gắng sửa chữa. Đó là vì nghiên cứu một cách không thiết thực, không có tổ chức”[3]. Nhận rõ sự cần kíp của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cho nên trong điều kiện chiến tranh ở chiến khu Việt Bắc, bất chấp chiến dịch “Cánh đồng hoang” của quân Pháp muốn bao vây và tiêu diệt đầu não kháng chiến của quân và dân ta ngay trong đợt tấn công đầu tiên vào mùa thu năm 1947, Hồ Chí Minh vẫn giành thời gian để hoàn thành tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”.
2. Giá trị lý luận
Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa thể hiện sự kế thừa sâu sắc lý luận Mác - Lênin về xây dựng Đảng, vừa bổ sung, phát triển làm phong phú thêm nhiều vấn đề quan trọng. Với các nội dung được đề cập, “Sửa đổi lối làm việc” là một tác phẩm có giá trị lý luận vô cùng to lớn.
Thứ nhất, đây là tác phẩm lý luận hết sức quan trọng về Đảng và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó hội tụ nhiều quan điểm lớn, trở thành nền tảng tư tưởng để Đảng ta xác định các chủ trương, biện pháp cụ thể cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng qua các thời kỳ cách mạng. Biểu hiện cụ thể như:
Tư tưởng về những căn bệnh mà cán bộ, đảng viên của một đảng cầm quyền thường mắc phải. Người chỉ rõ, những căn bệnh đó là: chủ quan, hẹp hòi, ba hoa, hội họp nhiều mà kém chất lượng và bệnh nể nang;
Tư tưởng về tự đổi mới, tự chỉnh đốn đảng. Theo Người, nếu toàn Đảng và mỗi đảng viên “mỗi ngày đều tự kiểm điểm mình và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công”[4];
Tư tưởng về lý luận, vai trò của lý luận và sự cần thiết phải học lý luận. Theo Hồ Chí Minh, lý luận là sản phẩm của thao tác tư duy, là những kết luận được rút ra từ sự so sánh, đối chiếu những hoạt động thực tiễn. Lý luận có vai trò bảo đảm tính đúng đắn cho các hoạt động thực tiễn của con người, không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào thực tế và phải kiên quyết khắc phục bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông;
Tư tưởng về trí thức và tư cách của một người trí thức chân chính. Theo Hồ Chí Minh, trí thức là hiểu biết, người trí thức là người có hiểu biết và phát hiện ra những hiểu biết mới về tự nhiên, về xã hội, và những hiểu biết đó phải được áp dụng vào thực tế. Vì vậy, người trí thức chân chính là người tích cực hoạt động thực tiễn, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của Đảng của dân tộc;
Tư tưởng về cán bộ và công tác cán bộ. Người chỉ rõ: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc”[5]. Theo Người, cán bộ có vai trò rất quan trọng, “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng và công tác cán bộ là một mặt công tác hết sức quan trọng của Đảng;
Tư tưởng về phương pháp, cách thức lãnh đạo của Đảng. Theo Hồ Chí Minh, cách lãnh đạo đúng phải bảo đảm ba yêu tố, đó là: “Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng…Phải tổ chức sự thi hành cho đúng…Phải tổ chức sự kiểm soát”[6];
Thứ hai, “Sửa đổi lối làm việc” là những chuẩn mực về tư tưởng, đạo đức, phong cách của người cán bộ, đảng viên. Trở thành cẩm nang để mỗi cán bộ, đảng viên tự sửa chữa và từng bước hoàn thiện nhân cách của mình.
Hồ Chí Minh chỉ rõ, đạo đức cách mạng là đạo đức mới, đạo đức mang bản chất của giai cấp công nhân, hướng tới mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Những chuẩn mực chung nhất của đạo đức cách mạng là: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Và, đạo đức cách mạng có vai trò to lớn đối với người cách mạng, “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[7]. Người còn chỉ ra hậu quả của việc đảng viên kém tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Theo Người, nếu kém rèn luyện đạo đức sẽ mắc vào chủ nghĩa cá nhân, mà chủ nghĩa cá nhân thì như một thứ vi trùng độc, do nó mà sinh ra hàng trăm thứ bệnh rất nguy hiệm như: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương và óc lãnh tụ. Ngoài ra, chủ nghĩa cá nhân còn làm cho cán bộ, đảng viên mắc các bệnh khác như bệnh hữu danh vô thực, kéo bè kéo cánh, không nhìn xa trông rộng và bệnh tự cao, tự đại.
Thứ ba, tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” không chỉ giúp cho cán bộ, đảng viên và mỗi người cách mạng có quan điểm, lập trường đúng đắn khi xem xét những hạn chế, khuyết điểm của các cá nhân, tổ chức đảng, mà còn góp phần giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng.
Theo Hồ Chí Minh: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra”. Vì vậy, việc Đảng còn có những người, những việc chưa tốt, những hạn chế, khuyết điểm là chuyện bình thường. Tuy nhiên, để có cách ứng xử đúng với các khuyết điểm đó cần phải đứng vững trên lập trường của người cộng sản chân chính. Người chỉ rõ, trước những hạn chế, khuyết điểm của Đảng, sẽ có năm thái độ khác nhau. Trong đó, những phần tử xấu, phản động thì lợi dụng, tô vẽ thêm để phá hoại Đảng; những kẻ đầu cơ thì lợi dụng những khuyết điểm đó để đạt mục đích tư lợi cá nhân; những cán bộ, đảng viên ươn hèn, yếu ớt thì bỏ mặc thế nào cũng được; những người máy móc quá thì đòi đuổi ngay những người mắc khuyết điểm ra khỏi Đảng. Bên cạnh đó, chỉ có một thái độ đúng đắn nhất đó là: phân tích rõ đúng sai; ra sức học tập và nâng cao những kiểu mẫu tốt; ra sức đấu tranh sửa chữa khuyết điểm; khéo dùng cách phê bình và tự phê bình để sửa chữa những hạn chế, sai lầm; đẩy mạnh đấu tranh nội bộ để tăng cường đoàn kết để nâng cao kỷ luật và uy tín của Đảng.
3. Giá trị thực tiễn
Những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh được nêu trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đã có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất Tổ quốc của Đảng và nhân dân ta. Đó không chỉ là những cảnh báo về các căn bệnh một đảng cầm quyền có nguy cơ mắc phải, mà còn chỉ rõ những dấu hiệu, triệu chứng của những căn bệnh đó và hậu quả của nó nếu không được kịp thời chữa trị, khắc phục. Đặc biệt, với những biện pháp, cách thức cụ thể được Người chỉ ra trong tác phẩm đã tạo nên một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Thực tế cho thấy, ngay sau khi tác phẩm ra đời, một loạt các cuộc chỉnh huấn ở các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị được tiến hành, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của mỗi cán bộ, đảng viên.
Sự chỉ dẫn cụ thể mà ân cần trên tinh thần khoan dung, độ lượng và hết sức biện chứng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên dám nhìn thẳng vào những hạn chế, khuyết điểm, yếu kém của mình, dám nhận khuyết điểm, mạnh dạn tự phê bình và phê bình, tích cực, tự giác sửa chữa khuyết điểm. Với thái độ phê bình thấu tình, đạt lý nhưng rất nghiêm khắc và kiên quyết được nêu ra trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” cùng với Lời kêu gọi thi đua ái quốc được Người viết vào ngày 11/6/1948 đã tạo nên phong trào thi đua sôi nổi trong mọi hoạt động cách mạng, góp phần giành nhiều thắng lợi mới trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam được nêu ra trong tác phẩm “Đường cách mệnh” và tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” thể hiện sự xuyên suốt, nhất quán trong tư duy của Người về một đảng cách mạng chân chính, bảo đảm cho Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự là một đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên của Đảng đã tự giác học tập, rèn luyện và nêu tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng; tỏ rõ lòng trung thành với Đảng với Tổ quốc và nhân dân; vượt qua mọi gian khổ, hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ; thực sự tiền phong, gương mẫu về lý luận và thực tiễn, bảo đảm cho Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh, tiêu biểu cho lương tâm, trí tuệ của toàn dân tộc. Thực hiện nghiêm túc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng đã kịp thời sửa chữa khuyết điểm, củng cố lực lượng, siết chặt đội ngũ, chấn chỉnh kỷ luật, giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng, nâng cao năng lực và phẩm chất đạo đức; tiếp tục giữ vững vai trò lãnh đạo quần chúng nhân dân, làm tốt nhiệm vụ cầm quyền, động viên toàn dân, toàn quân tích cực tham gia công tác, chiến đấu để đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đến thắng lợi cuối cùng.
“Sửa đổi lối làm việc” là tác phẩm có sự hội tụ cả tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người. Ra đời đã 70 năm nhưng giá trị thực tiễn của tác phẩm chẳng những không hề suy giảm mà tính thời sự và giá trị chỉ đạo hiện thực còn tiếp tục tăng lên. Bởi lẽ, sự tha hóa là thuộc tính của quyền lực và luôn là nguy cơ của mọi đảng cầm quyền. Mặt khác, trong điều kiện nước ta đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn có sự đan xen giữa cái cũ với cái mới, cái tích cực với cái tiêu cực. Đặc biệt, trong bối cảnh bùng nổ của công nghệ thông tin, truyền thông, sự cạnh tranh giữa các giá trị chính trị ngày càng gay gắt cộng với sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình” với thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ cán bộ, đảng viên như hiện nay thì vấn đề chỉnh đốn đảng càng trở lên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Thấm nhuần và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong “Sửa đổi lối làm việc” Đảng ta đã có nhiều cuộc vận động lớn về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đặc biệt, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đến nay, Đảng ta luôn đặt lên hàng đầu công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng, tập trung nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, bảo đảm cho Đảng đáp ứng tốt nhất đòi hỏi của giai đoạn cách mạng mới, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo duy nhất, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên quán triệt sâu sắc lời dạy của Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” chính là học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh./.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 12, tr.30.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 8, tr.274.
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.269.
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.273.
[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.309.
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.325.
[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.292.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét