BỐI CẢNH RA ĐỜI, GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA TÁC PHẨM “SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC”
1. Bối cảnh ra đời
“Sửa đổi lối làm việc” là một trong những tác phẩm
lớn và rất quan trọng đối với Đảng và cách mạng Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí
Minh hoàn thành vào tháng 10 năm 1947, với bút danh X.Y.Z. Tác phẩm được Nhà
xuất bản Sự thật xuất bản lần đầu vào năm 1948 và xuất bản lần thứ bẩy vào năm
1959. Hiện nay, trong Hồ Chí Minh toàn tập, bộ 15 tập, do Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia - Sự thật xuất bản năm 2011, tác phẩm được in ở tập 5, từ trang
269 đến trang 346. Tác phẩm là sản phẩm của quá trình Hồ Chí Minh tư duy về
Đảng và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trước yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp xây
dựng, củng cố chính quyền cách mạng và thực tiễn cuộc kháng chiến chống đế quốc
Pháp.
Thực tế cho thấy, với phẩm chất nhân văn cao cả và mong muốn một nền độc
lập, tự do thực sự cho dân tộc Việt Nam, sau nhiều trải nghiệm, tìm tòi, so
sánh, nhất là sau khi được tiếp cận với Luận cương của V.I.Lênin về vấn đề dân
tộc và vấn đề thuộc địa, Hồ Chí Minh đã nhận thức rất rõ về vai trò của Đảng
Cộng sản đối với sự nghiệp cách mạng. Theo Người, vấn đề dân tộc và vấn đề giai
cấp luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau. Do đó, trong mọi thời kỳ lịch sử
kể từ khi loài người có phân hóa giai cấp, vấn đề dân tộc đều phải được giải
quyết theo lập trường của một giai cấp nhất định, với điều kiện đó là giai cấp
tiên tiến nhất của thời đại. Vì vậy, với thực tiễn Việt Nam cuối thế kỷ XIX,
đầu thế kỷ XX, khi giai cấp công nhân đã ra đời, giai cấp địa chủ, phong đã bất
lực, các giai cấp, tầng lớp khác ra đời sau giai cấp công nhân và còn nhỏ bé,
Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con
đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[1].
Tức là vấn đề độc lập dân tộc ở Việt Nam muốn giải quyết được phải đứng trên
lập trường của giai cấp công nhân và phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh
đạo.
Nhất quán với quan điểm đó, Hồ Chí Minh không chỉ tiến hành nhiều hoạt
động lý luận và thực tiễn để thành lập ở Việt Nam một đảng cách mạng chân chính
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, mà Người còn rất quan tâm
đến công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng, đặc biệt trong điều kiện Đảng ta đã trở
thành đảng cầm quyền. Bởi lẽ, theo Người, giành độc lập dân tộc chỉ là bước đầu
trên con đường đi tới tự do, ấm no, hạnh phúc và việc thắng thực dân, đế quốc
đã là muôn vàn gian khổ hy sinh, nhưng thắng nghèo làn, lạc hậu còn khó khăn
hơn nhiều. Người chỉ rõ: “Cách mạng là
cuộc đấu tranh rất gian khổ. Lực lượng kẻ địch rất mạnh. Muốn thắng lợi thì
quần chúng phải tổ chức rất chặt chẽ; chí khí phải kiên quyết. Vì vậy, phải có
Đảng để tổ chức và giáo dục nhân dân thành một đội quân thật mạnh, để đánh đổ
kẻ địch, tranh lấy chính quyền. Cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có
Đảng lãnh đạo, vì: - Dù nhân dân đã nắm chính quyền, nhưng giai cấp đấu tranh
trong nước và mưu mô đế quốc xâm lược vẫn còn. - Vì phải xây dựng kinh tế, quốc
phòng, văn hóa, xã hội cho nên Đảng vẫn phải tổ chức, lãnh đạo, giáo dục quần
chúng, để đưa nhân dân lao động đến thắng lợi hoàn toàn”[2].
Vì vậy, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng tám năm 1945, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã trở thành đảng cầm quyền, nhưng ngay sau đó toàn dân tộc lại phải
đương đầu với thù trong, giặc ngoài và âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa của
đế quốc Pháp. Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất kiên
nhẫn với nhiều giải pháp hòa bình để tránh một cuộc xung đột giữa nhân dân Việt
Nam với quân đội Pháp, nhưng không được đế quốc Pháp hưởng ứng. Do đó, sau
khoảng 16 tháng (từ tháng 9 - 1945 đến cuối năm 1946), dưới sự chèo lái của Hồ
Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, con thuyền cách mạng Việt Nam đã vượt qua những
sóng gió hiể nguy, sẵn sàng đương đầu với mọi thế lực hung bạo nhất để bảo vệ
nền độc lập mới giành được. Mặt khác, chẳng những đế quốc Pháp không hưởng ứng
những giải pháp tránh xung đột vũ trang mà Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt
Nam đưa ra, mà còn cố tình gây chiến. Sau bức tối hậu thư lần thứ ba mà quân
Pháp gửi đến vào sáng sớm ngày 19 - 12 - 1946, đòi tự vệ Hà Nội phải hạ vũ khí,
vào lúc 20 giờ 3 phút ngày 19 - 12 - 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu
gọi toàn quốc kháng chiến.
Như vậy, tính đến tháng 10 năm 1947, Đảng ta mới chính thức cầm quyền
được hơn hai năm và cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đã bắt đầu được
gần một năm. Tuy nhiên, đó cũng là quá trình mà thuộc tính tha hóa của quyền
lực và những khó khăn, gian khổ của cuộc kháng chiến bắt đầu tiến công vào đội
ngũ cán bộ, đảng viên cả từ bên trong và bên ngoài. Những kẻ thù đó đã làm cho
một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng có những biểu hiện như: cục bộ, bè phái,
cửa quyền, hách dịch, quan liêu, xa dân… Những biểu hiện đó không chỉ làm giảm
sút hiệu quả công tác của cán bộ, đảng viên, mà còn làm suy giảm niềm tin của
nhân dân đối với Đảng, có nguy cơ ảnh hưởng không tốt đến sự nghiệp kháng
chiến, kiến quốc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Nhận rõ điều đó, ngay
từ đầu năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có Thư
gửi các đồng chí Bắc Bộ để nhắc nhở cán bộ, đảng viên sửa chữa những khuyết
điểm ấy. Người cho rằng, trong lúc dân tộc đang ở ngã tư đường, chết hay sống,
mất hay còn, mỗi đảng viên và toàn Đảng phải đem tất cả tinh thần và lực lượng
ra để thống nhất ý chí và hành động của toàn dân, nhằm vào một mục đích: đánh
đuổi thực dân Pháp để giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Mặt khác,
theo Người, trong lúc này tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên rất
có quan hệ đến toàn quốc. Nếu một người sơ suất, một việc sơ suất là có thể
hỏng việc to; sai một ly đi một dặm. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu, mỗi
cán bộ, đảng viên phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm đó.
Mặc dù vậy, do nhiều lý do khách quan và chủ quan mà như Hồ Chí Minh đã
viết trong “Sửa đổi lối làm việc” rằng, “Cán bộ và đảng viên ta, vì bận việc
hành chính hoặc quân sự, mà xao nhãng việc học tập… hoặc chỉ nghiên cứu qua loa, hoặc
nhận thấy khuyết điểm rồi nhưng không cố gắng sửa chữa. Đó là vì nghiên cứu một cách không
thiết thực, không có tổ chức”[3].
Nhận rõ sự cần kíp của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cho nên trong điều
kiện chiến tranh ở chiến khu Việt Bắc, bất chấp chiến dịch “Cánh đồng hoang”
của quân Pháp muốn bao vây và tiêu diệt đầu não kháng chiến của quân và dân ta
ngay trong đợt tấn công đầu tiên vào mùa thu năm 1947, Hồ Chí Minh vẫn giành
thời gian để hoàn thành tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”.
2. Giá trị lý luận
Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa thể hiện sự
kế thừa sâu sắc lý luận Mác - Lênin về xây dựng Đảng, vừa bổ sung, phát triển
làm phong phú thêm nhiều vấn đề quan trọng. Với các nội dung được đề cập, “Sửa
đổi lối làm việc” là một tác phẩm có giá trị lý luận vô cùng to lớn.
Thứ nhất, đây là tác phẩm lý luận hết sức
quan trọng về Đảng và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó hội tụ nhiều
quan điểm lớn, trở thành nền tảng tư tưởng để Đảng ta xác định các chủ trương,
biện pháp cụ thể cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng qua các thời kỳ cách
mạng. Biểu hiện cụ thể như:
Tư tưởng về những căn bệnh mà cán bộ, đảng viên của một đảng cầm quyền
thường mắc phải. Người chỉ rõ, những căn bệnh đó là: chủ quan, hẹp hòi, ba hoa,
hội họp nhiều mà kém chất lượng và bệnh nể nang;
Tư tưởng về tự đổi mới, tự chỉnh đốn đảng. Theo Người, nếu toàn Đảng và
mỗi đảng viên “mỗi ngày đều tự kiểm điểm mình và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ
thấy khuyết điểm phải kiên quyết sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải
như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công”[4];
Tư tưởng về lý luận, vai trò của lý luận và sự cần thiết phải học lý
luận. Theo Hồ Chí Minh, lý luận là sản phẩm của thao tác tư duy, là những kết
luận được rút ra từ sự so sánh, đối chiếu những hoạt động thực tiễn. Lý luận có
vai trò bảo đảm tính đúng đắn cho các hoạt động thực tiễn của con người, không
có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải
học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào thực tế và phải kiên quyết khắc phục
bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông;
Tư tưởng về trí thức và tư cách của một người trí thức chân chính. Theo
Hồ Chí Minh, trí thức là hiểu biết, người trí thức là người có hiểu biết và
phát hiện ra những hiểu biết mới về tự nhiên, về xã hội, và những hiểu biết đó
phải được áp dụng vào thực tế. Vì vậy, người trí thức chân chính là người tích
cực hoạt động thực tiễn, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của Đảng của dân tộc;
Tư tưởng về cán bộ và công tác cán bộ. Người chỉ rõ: “Cán bộ là những
người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ
và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính
phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công
việc”[5].
Theo Người, cán bộ có vai trò rất quan trọng, “Muôn việc thành công hay thất
bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của
Đảng và công tác cán bộ là một mặt công tác hết sức quan trọng của Đảng;
Tư tưởng về phương pháp, cách thức lãnh đạo của Đảng. Theo Hồ Chí Minh, cách
lãnh đạo đúng phải bảo đảm ba yêu tố, đó là: “Phải quyết định mọi vấn đề một
cách cho đúng…Phải tổ chức sự thi hành cho đúng…Phải tổ chức sự kiểm soát”[6];
Thứ hai, “Sửa đổi lối làm việc” là những
chuẩn mực về tư tưởng, đạo đức, phong cách của người cán bộ, đảng viên. Trở
thành cẩm nang để mỗi cán bộ, đảng viên tự sửa chữa và từng bước hoàn thiện
nhân cách của mình.
Hồ Chí Minh chỉ rõ, đạo đức cách mạng là đạo đức mới, đạo đức mang bản
chất của giai cấp công nhân, hướng tới mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng
giai cấp và giải phóng con người. Những chuẩn mực chung nhất của đạo đức cách
mạng là: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Và, đạo đức cách mạng có vai trò to lớn
đối với người cách mạng, “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì
dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[7].
Người còn chỉ ra hậu quả của việc đảng viên kém tu dưỡng, rèn luyện đạo đức.
Theo Người, nếu kém rèn luyện đạo đức sẽ mắc vào chủ nghĩa cá nhân, mà chủ
nghĩa cá nhân thì như một thứ vi trùng độc, do nó mà sinh ra hàng trăm thứ bệnh
rất nguy hiệm như: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật,
óc hẹp hòi, óc địa phương và óc lãnh tụ. Ngoài ra, chủ nghĩa cá nhân còn làm
cho cán bộ, đảng viên mắc các bệnh khác như bệnh hữu danh vô thực, kéo bè kéo
cánh, không nhìn xa trông rộng và bệnh tự cao, tự đại.
Thứ ba, tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” không
chỉ giúp cho cán bộ, đảng viên và mỗi người cách mạng có quan điểm, lập trường đúng
đắn khi xem xét những hạn chế, khuyết điểm của các cá nhân, tổ chức đảng, mà
còn góp phần giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng.
Theo Hồ Chí Minh: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã
hội mà ra”. Vì vậy, việc Đảng còn có những người, những việc chưa tốt, những
hạn chế, khuyết điểm là chuyện bình thường. Tuy nhiên, để có cách ứng xử đúng với
các khuyết điểm đó cần phải đứng vững trên lập trường của người cộng sản chân
chính. Người chỉ rõ, trước những hạn chế, khuyết điểm của Đảng, sẽ có năm thái
độ khác nhau. Trong đó, những phần tử xấu, phản động thì lợi dụng, tô vẽ thêm
để phá hoại Đảng; những kẻ đầu cơ thì lợi dụng những khuyết điểm đó để đạt mục
đích tư lợi cá nhân; những cán bộ, đảng viên ươn hèn, yếu ớt thì bỏ mặc thế nào
cũng được; những người máy móc quá thì đòi đuổi ngay những người mắc khuyết
điểm ra khỏi Đảng. Bên cạnh đó, chỉ có một thái độ đúng đắn nhất đó là: phân
tích rõ đúng sai; ra sức học tập và nâng cao những kiểu mẫu tốt; ra sức đấu
tranh sửa chữa khuyết điểm; khéo dùng cách phê bình và tự phê bình để sửa chữa
những hạn chế, sai lầm; đẩy mạnh đấu tranh nội bộ để tăng cường đoàn kết để
nâng cao kỷ luật và uy tín của Đảng.
3. Giá trị thực tiễn
Những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh được nêu trong tác
phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đã có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp kháng
chiến, kiến quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất
Tổ quốc của Đảng và nhân dân ta. Đó không chỉ là những cảnh báo về các căn bệnh
một đảng cầm quyền có nguy cơ mắc phải, mà còn chỉ rõ những dấu hiệu, triệu
chứng của những căn bệnh đó và hậu quả của nó nếu không được kịp thời chữa trị,
khắc phục. Đặc biệt, với những biện pháp, cách thức cụ thể được Người chỉ ra
trong tác phẩm đã tạo nên một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân ta. Thực tế cho thấy, ngay sau khi tác phẩm ra đời, một
loạt các cuộc chỉnh huấn ở các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị được tiến
hành, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của mỗi cán bộ, đảng
viên.
Sự chỉ dẫn cụ thể mà ân cần trên tinh thần khoan dung, độ lượng và hết
sức biện chứng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên dám
nhìn thẳng vào những hạn chế, khuyết điểm, yếu kém của mình, dám nhận khuyết
điểm, mạnh dạn tự phê bình và phê bình, tích cực, tự giác sửa chữa khuyết điểm.
Với thái độ phê bình thấu tình, đạt lý nhưng rất nghiêm khắc và kiên quyết được
nêu ra trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” cùng với Lời kêu gọi thi đua ái
quốc được Người viết vào ngày 11/6/1948 đã tạo nên phong trào thi đua sôi nổi
trong mọi hoạt động cách mạng, góp phần giành nhiều thắng lợi mới trong sự
nghiệp kháng chiến, kiến quốc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam được nêu
ra trong tác phẩm “Đường cách mệnh” và tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” thể hiện
sự xuyên suốt, nhất quán trong tư duy của Người về một đảng cách mạng chân
chính, bảo đảm cho Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự là một đảng của giai cấp công
nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, nhiều thế hệ cán bộ, đảng
viên của Đảng đã tự giác học tập, rèn luyện và nêu tấm gương sáng ngời về đạo
đức cách mạng; tỏ rõ lòng trung thành với Đảng với Tổ quốc và nhân dân; vượt
qua mọi gian khổ, hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ; thực sự tiền phong, gương mẫu
về lý luận và thực tiễn, bảo đảm cho Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh,
tiêu biểu cho lương tâm, trí tuệ của toàn dân tộc. Thực hiện nghiêm túc lời dạy
của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, đội ngũ cán bộ,
đảng viên của Đảng đã kịp thời sửa chữa khuyết điểm, củng cố lực lượng, siết
chặt đội ngũ, chấn chỉnh kỷ luật, giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng,
nâng cao năng lực và phẩm chất đạo đức; tiếp tục giữ vững vai trò lãnh đạo quần
chúng nhân dân, làm tốt nhiệm vụ cầm quyền, động viên toàn dân, toàn quân tích
cực tham gia công tác, chiến đấu để đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược đến thắng lợi cuối cùng.
“Sửa đổi lối làm việc” là tác phẩm có sự hội tụ cả tư tưởng, đạo đức và
phong cách của Người. Ra đời đã 70 năm nhưng giá trị thực tiễn của tác phẩm
chẳng những không hề suy giảm mà tính thời sự và giá trị chỉ đạo hiện thực còn
tiếp tục tăng lên. Bởi lẽ, sự tha hóa là thuộc tính của quyền lực và luôn là
nguy cơ của mọi đảng cầm quyền. Mặt khác, trong điều kiện nước ta đang quá độ
lên chủ nghĩa xã hội, còn có sự đan xen giữa cái cũ với cái mới, cái tích cực
với cái tiêu cực. Đặc biệt, trong bối cảnh bùng nổ của công nghệ thông tin,
truyền thông, sự cạnh tranh giữa các giá trị chính trị ngày càng gay gắt cộng
với sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “diễn
biến hòa bình” với thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ cán bộ, đảng viên như hiện nay thì
vấn đề chỉnh đốn đảng càng trở lên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Thấm nhuần và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong “Sửa đổi lối
làm việc” Đảng ta đã có nhiều cuộc vận động lớn về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Đặc biệt, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đến nay, Đảng ta luôn đặt
lên hàng đầu công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng, tập trung nâng cao phẩm chất,
năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh
đạo của Đảng; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu của Đảng, bảo đảm cho Đảng đáp ứng tốt nhất đòi hỏi của giai
đoạn cách mạng mới, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo duy nhất, là nhân tố quyết
định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên quán
triệt sâu sắc lời dạy của Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”
chính là học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh./.
[1] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 12, tr.30.
[2] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 8, tr.274.
[3] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.269.
[4] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.273.
[5] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.309.
[6] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.325.
[7] Hồ
Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.292.